Huyền thoại tướng Nguyễn Bình kết nghĩa với nhà văn–tướng cướp
(Người nổi tiếng) - Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy quân sự tài ba, quyết đoán và dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Trước Cách mạng tháng Tám, ông nổi danh là người gan dạ, mưu lược. Ông tham gia Quốc dân Đảng và bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo.
Tại đây, ông bị những kẻ cực hữu trong Quốc dân Đảng đâm mù một mắt. Năm 1936, ông được trả tự do và về Hải Phòng lập căn cứ. Tháng 6/1945, ông thành lập Chiến khu Đông Triều và làm Tư lệnh chiến khu, một vị chỉ huy làm quân Pháp kinh hoàng bạt vía.
Tháng 7/1945, ông chỉ huy du kích đánh chiếm thị xã Quảng Yên, tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước Cách mạng tháng Tám, sau đó tổ chức giành chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương và được Trung ương giao làm Khu trưởng Khu Duyên hải Bắc Bộ.
Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao trọng trách cho ông vào miền Nam để thống nhất các lực lượng vũ trang.
Ông nổi tiếng trong việc quy tụ lực lượng giang hồ tham gia kháng chiến ở Nam Bộ trở thành một đội quân chính quy, hùng mạnh và là người khai sinh Ban Công tác thành Sài Gòn (sau này gọi là Biệt động Sài Gòn).
Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên.
Khi Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập, ông được giao chức vụ Tư lệnh Nam Bộ, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Ủy viên quân sự Nam Bộ… Ông là vị tướng đầy huyền thoại của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tương ngộ giữa đất Sài Gòn
Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh năm 1908, là con thứ 4 trong một gia đình trung lưu gồm có 5 người con.
Nguyễn Phương Thảo có vóc dáng khỏe mạnh, khuôn mặt cương nghị, tính tình phóng túng. Từ ông toát ra một sự tự tin, một sức mạnh nội tâm được kiềm chế gây ấn tượng mạnh mẽ cho người khác.
Cha ông là Nguyễn Thế Pho, lúc còn trẻ làm việc tại Hải Phòng nên mới quen biết và kết hôn với mẹ ông là Ngô Thị Long, người làng Hà Nhuận, huyện An Dương, Hải Phòng. Năm 11 tuổi, Nguyễn Phương Thảo được cha mẹ gửi lên Hải Phòng ở tại nhà người anh ruột là một viên chức bưu điện Hải Phòng để theo học bậc thành chung.
![]() |
| Trung tướng Nguyễn Bình |
Tại đây, Nguyễn Phương Thảo vừa học vừa tham gia các phong trào yêu nước trong giới học sinh nên bị mật thám Pháp theo dõi.
Đến năm 1924, lúc 16 tuổi, khi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, Nguyễn Phương Thảo đi làm thủy thủ cho hãng tàu Đầu Ngựa chuyên chạy tuyến Hải Phòng – Mác-xây (Pháp).
Được một thời gian ngắn, do không cam chịu thân phận làm nô lệ, Nguyễn Phương Thảo đã tham gia những hoạt động chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và bị truy lùng.
Tuổi trẻ sôi động và đầy nhiệt huyết, ông quyết định trốn gia đình vào Sài Gòn để tránh sự truy lùng của bọn mật thám và tìm cho mình một con đường để hoạt động.
Ông cải trang và xin vào làm một người thợ giặt ủi trên tàu Pélican của hãng Messagenés Maritimes xuất bến từ Hải Phòng để vào miền đất hứa.
Có thể nói đây là quyết định làm thay đổi cuộc đời một con người quả cảm, tài ba, sẵn sàng dấn thân, một vị trung tướng đầy thao lược sau này.
Sau mấy ngày lênh đênh trên biển, tàu Pélican cập bến Nhà Rồng, người thợ giặt ủi bất đắc dĩ Nguyễn Phương Thảo bắt tay từ biệt các bạn thủy thủ bước xuống Khánh Hội. Theo chỉ dẫn của một người bạn, ông tìm đến một nhà trọ ở trong hẻm gần nhà ga xe lửa. Ở đó ông được chủ nhà cho mượn ghế bố nghỉ trưa và nghỉ đêm. Cơm ngày hai bữa dọn chung cho tất cả mọi người ở trọ thuộc nhiều giới: thầy ký công tư sở, thanh niên học nghề.
Nhà nấu cơm tháng này chứa khoảng mười hai người, giá cả rất vừa túi tiền giới bình dân. Nguyễn Phương Thảo có đủ tiền để ở trọ lại đây trong thời gian vừa phải đi tìm việc làm.
Hàng ngày ông đi dạo khắp các phố phường, khám phá nơi mà Pháp hãnh diện gọi là Hòn ngọc Viễn Đông để vừa biết đây biết đó và tìm cho mình một công việc thích hợp.
Theo tư liệu của nhà văn Nguyên Hùng, tại đây, cơ duyên đã khiến ông gặp gỡ và kết thân với nhà văn – tướng cướp Sơn Vương, một nhân vật đầy “huyền thoại” của đất Sài Gòn những năm 1930.
Sơn Vương tên thật là Trương Văn Thoại, ông sinh năm 1909 tại làng Bình Nghị (nay thuộc xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), là con trai thứ năm của ông Trương Đình Cung Anh, một điền chủ có học, lại thêm nghề bốc thuốc chữa bệnh, và có lòng hào hiệp, thường hay giúp đỡ người nghèo.
Khi vừa học hết lớp nhất tiểu học, Trương Văn Thoại chuyển sang luyện võ và học chữ Hán. Năm 1925, ông bỏ làng theo một lão võ sư mai danh ẩn tích học võ và học đạo tại các ngọn núi Thị Vải, núi Ông Trịnh, núi Mây Tào vùng Long Hải, Bà Rịa.
Đến năm 1931, khi vị sư phụ qua đời, Trương Văn Thoại về Sài Gòn làm việc tại “Đông Pháp thời báo”.
Sau đó ông gặp Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ “Tiếng chuông rè” kiêm thủ lĩnh đảng Thanh niên cao vọng, người mà ông cảm phục từ lâu.
Trương Văn Thoại trở thành một cộng sự đắc lực của Nguyễn An Ninh và tờ “Tiếng chuông rè”. Thời kỳ này Trương Văn Thoại bắt đầu sử dụng bút danh Sơn Vương.
Các bài báo của ông mang đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với các tầng lớp nghèo khó.
Ngoài ra ông còn viết tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, nhưng những tướng cướp nghĩa hiệp cướp của nhà giàu chia cho người nghèo không cưỡi ngựa đánh gươm mà là những công tử hào hoa lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay.
Và một điều cực kỳ đặc biệt, những tướng cướp hào hoa nghĩa hiệp trong các tác phẩm của ông được lấy nguyên mẫu từ chính ông. Điều này cũng có nghĩa ông là một tướng cướp khét tiếng tại đất Sài Gòn.
Trong những năm 1931-1933, một mình Sơn Vương gây ra hàng chục vụ cướp mà đối tượng là những phú hộ, địa chủ mang tiếng gian ác ở các vùng Đồng Nai, Sài Gòn, Long An…
Thời kỳ này, những độc giả ham mê đọc truyện kiếm hiệp chủ yếu chú ý đến hai tác giả rất nổi tiếng. Người thứ nhất là nhà văn Phú Đức, một tác giả được mệnh danh là chuyên viết truyện “xúi con nít đánh lộn”.
Người thứ hai chính là nhà văn – tướng cướp Sơn Vương Trương Văn Thoại. Tính đến đầu năm 1933, Sơn Vương đã có một gia tài tác phẩm đồ sộ với 30 tác phẩm, trong đó có đến 20 tác phẩm là trường thiên tiểu thuyết, hầu hết được xuất bản trong những năm 1930, 1931. Hàng ngày, Sơn Vương ngồi ở góc đường Monlau (nay là Huỳnh Thúc Kháng) vừa viết vừa bán sách của chính mình.
Bạn cùng nhà trọ với Nguyễn Phương Thảo có một thanh niên học nghề máy nổ rất mê tiểu thuyết. Hễ về tới nhà là anh ta lật ghế bố đọc say mê, có lúc anh ta vừa đọc vừa cười một mình, rung rinh cả ghế bố.
Thấy lạ, Nguyễn Phương Thảo tò mò hỏi han thì được biết anh ta đang đọc tiểu thuyết “Tướng cướp hào hoa” của Sơn Vương.
Trong những ngày rảnh rỗi chưa tìm được việc làm, Nguyễn Phương Thảo cũng mượn cuốn này đọc và bị lôi cuốn lúc nào không hay biết. Ông tỏ ra cảm phục và quý mến, nên tìm cách gặp mặt tác giả Sơn Vương.
Và qua sự dẫn dắt của người thanh niên chung nhà trọ, Nguyễn Phương Thảo đã gặp gỡ Sơn Vương tại góc đường Monlau (nay là Huỳnh Thúc Kháng), quận 1.
Tại đây, qua vài câu trao đổi, biết gặp phải một trang hảo hán, Sơn Vương đã thu dọn sách vở, mời Nguyễn Phương Thảo một chầu rượu gọi là ra mắt trong buổi sơ giao.
Ông cho rằng bán sách chỉ là cách giao du để tìm bạn tri âm. Nay đã gặp được rồi nên trong lòng khảng khái. Kẻ phương Bắc, người phương Nam mến mộ nhau, gặp được nhau như cá gặp nước, cả hai thỏa sức bày tỏ mọi tâm tình.
Qua đó, Nguyễn Phương Thảo càng khâm phục Sơn Vương gấp bội khi được biết những nhân vật tướng cướp hào hoa trong tiểu thuyết được lấy nguyên mẫu từ chính tác giả.
Trước khi chia tay, Sơn Vương ký tặng Nguyễn Phương Thảo cuốn tiểu thuyết “Luật rừng xanh”. Trang đầu tiên, Sơn Vương viết: “Mến tặng chú em kết nghĩa Nguyễn Phương Thảo. Ký tên Sơn Vương (Trương Văn Thoại)”.
Về nhà trọ, Nguyễn Phương Thảo lật ghế bố đọc một hơi. Đây là chuyện một tá điền có vợ đẹp bị chủ điền bày mưu cướp vợ. Anh ta mướn thầy kiện thưa chủ điền nhưng chủ điền đút lót tiền bạc nên bị thua kiện, tán gia bại sản, phải bỏ xứ ra đi. Quyết chí trả thù, anh ta lên núi học võ, học bùa ngải.
Sau nhiều năm khổ luyện, anh ta trở về làng cũ thanh toán món nợ năm xưa. Danh dự đã phục hồi, nhưng anh ta vĩnh viễn trở thành kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Với anh ta, chỉ còn một thứ luật: luật rừng xanh.
Sáng hôm sau Nguyễn Phương Thảo tới góc đường Monlau nhưng không thấy Sơn Vương đâu, chờ đến 9 giờ sáng vẫn không thấy. Buồn bã, ông thả bộ trên đường phố, trong lòng đinh ninh Sơn Vương có việc gì đó không ra bán sách như thường lệ. Và thật bất ngờ, ông gặp Sơn Vương đang ngồi bán sách trên vỉa hè đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ) trước trụ sở Tổng Ngân khố Nam Kỳ.
Hai kẻ phiêu lưu mạo hiểm và giang hồ kỳ hiệp lại gặp nhau, Sơn Vương lại dọn dẹp sách vở và mời Nguyễn Phương Thảo về nhà mình là một căn phòng khoảng hai mươi mét vuông thuê của ông chủ tiệm may Nam Chấn Hưng tại ngã ba Lefebvre - Guynemer (nay là Nguyễn Công Trứ - Hồ Tùng Mậu).
Tại đây, Nguyễn Phương Thảo càng hiểu rõ tính cách phóng khoáng, ngang tàng của nhà văn giang hồ và thêm phần khâm phục. Chính vì thế, khi Sơn Vương mời về ở chung, Nguyễn Phương Thảo đã không ngần ngại gật đầu đồng ý.
Trong thâm tâm, ông muốn tìm hiểu thêm về con người miền Nam mà Sơn Vương có lẽ là tiêu biểu hơn hết.
Vụ cướp làm chấn động dư luận miền Nam
Trong thời gian ở phòng trọ của Sơn Vương, hai người bàn bạc với nhau rất nhiều việc. Sơn Vương khuyên Nguyễn Phương Thảo nên mở một tiệm giặt ủi tại Sài Gòn vì theo ông nghề này có thể có thu nhập tốt.
Vấn đề quan trọng là vốn ở đâu ra? Sơn Vương liền đưa ra một kế hoạch khiến Nguyễn Phương Thảo phải giật mình: đi cướp! Và tất nhiên Nguyễn Phương Thảo một mực từ chối vì không thể kiếm vốn liếng bằng cách như thế.
Tuy nhiên, để trấn an người anh em kết nghĩa, Sơn Vương cầm lấy con dao, đưa mấy ngón tay rà lưỡi dao bén ngót rồi cởi áo phình bụng căng cứng, xỉa mấy ngón tay vô thử mấy cái rồi thẳng tay chém ba nhát vô bụng. Lưỡi dao bật ra, để lại trên da bụng ba vết lằn đỏ.
Trước cặp mắt trợn tròn kinh hãi của Nguyễn Phương Thảo, Sơn Vương nói: “Nội công này “qua” học của đại lão sư trên núi ở Long Hải.
Dao mác không chém đứt, chỉ có súng đạn mới đáng sợ. Nhưng súng trong tay kẻ chủ động mới ăn tiền. Để chứng minh điều này, “qua” để cây súng thiệt ở nhà, chỉ mang theo cây súng giả. Cam đoan vẫn đánh lấy valy bạc của thằng Gaillard cho chú xem”.
Cái tên Gaillard mà Sơn Vương nhắc đến là René Gaillard, Phó giám đốc Hãng cao su Mimot ở Campuchia (giáp với tỉnh Tây Ninh) đồng thời là Quản trị viên Công ty Caffort ở đường Catinat, Sài Gòn.
Tên này hàng tháng đều đến ngân hàng Sài Gòn để rút tiền về trả lương cho công nhân nên số tiền hắn mang theo là rất lớn.
Trong những ngày bán sách ở vỉa hè tại những con đường ở chợ Bến Thành, Sơn Vương đã theo dõi kỹ lưỡng và nắm rõ quy luật đi lại của hắn. Sơn Vương quyết định làm một quả để giúp Nguyễn Phương Thảo vốn liếng mở tiệm giặt ủi!
![]() |
Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Trung tướng trong đợt phong tướng đầu tiên. |
Để thực hiện phi vụ này, Sơn Vương gọi một trợ thủ đắc lực tên là Năm Đường. Theo kế hoạch đã bàn bạc, Năm Đường chuẩn bị một chiếc xe hơi sang trọng hiệu Clément Bayard, tất nhiên là đã thay biển số giả để đánh lạc hướng bọn Tây. Chiếc xe này là của một ông chủ người Pháp, nơi Năm Đường làm công.
Nhân lúc người chủ có công việc phải về Pháp, Năm Đường đã “mượn” tạm để thực hiện phi vụ như trong… tiểu thuyết. Đến giờ hẹn, Năm Đường chở Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo trực chỉ hướng Tân Sơn Nhất. Trên khúc đường quẹo ra Bà Quẹo, xe ngừng lại tại cầu sắt nhỏ.
Năm Đường xuống dỡ nắp xe lên, làm như xe hỏng máy. Nguyễn Phương Thảo ngồi trong xe ngắm nhìn hai thầy trò Sơn Vương và Năm Đường đóng kịch. Không bao lâu đã thấy bụi bốc lên từ phía Tân Sơn Nhất.
Tức thì Năm Đường vờ lom khom sửa gì đó trong đầu máy xe còn Sơn Vương thì đi tới đi lui làm như sốt ruột lắm, cứ nhìn đồng hồ tay mãi.
Vài phút sau chiếc xe tên phó giám đốc sở cao su chạy tới. Hắn bóp kèn inh ỏi đòi qua nhưng chiếc xe của Năm Đường nằm chình ình ở giữa đường. Tên Gaillard mở cửa xe bước xuống nạt nộ.
Bất ngờ Sơn Vương hét lớn: “Mày là thằng nào mà dám ra lệnh cho tao?”. Vừa nói Sơn Vương vừa chĩa súng vô ngực tên Gaillard. Hắn run bắn người, ngoan ngoãn đưa hai tay lên đầu. Sơn Vương thò tay tước ngay khẩu súng lục trong túi hắn.
Một tay cầm súng, một tay Sơn Vương xách valy tiền ném vô xe Năm Đường, sau đó quăng khẩu súng giả vào xe tên Gaillard để làm “kỷ niệm” rồi nhanh chân bước lên xe. Năm Đường chỉ chờ có thế lập tức rồ ga vọt qua cầu.
Nguyễn Phương Thảo nhìn về phía sau, thấy tên Gaillard hối tài xế đuổi theo. Hắn chĩa súng bóp cò, khi đó mới biết súng giả, nên bực mình ném xuống đường. Hai chiếc xe xả hết tốc độ đuổi nhau, bụi bay đỏ trời.
Xe Năm Đường là loại xe đời mới nên máy móc tối tân, tốc lực cao hơn nên càng lúc càng bỏ xa xe sau.
Về tới Hòa Hưng, Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo xuống xe, thuê một chiếc xe ngựa chạy về Chợ Cũ. Kế hoạch coi như thành công mỹ mãn.
Ngay chiều hôm đó, Năm Đường tới nhận tiền “chiến lợi phẩm”. Nguyễn Phương Thảo cũng được Sơn Vương tặng một số tiền để thuê một căn nhà mặt tiền ở khu vực Đa Kao mở tiệm giặt ủi. Căn nhà này rất rộng, có cả một cái sân lớn để đặt sào phơi phóng quần áo.
Và sau vụ cướp, theo sắp xếp của Sơn Vương, mỗi người chia ra mỗi nơi, tránh gặp nhau đề phòng bị phát hiện. Tuy nhiên, từ ngày tạm biệt căn phòng trọ của Sơn Vương để mở tiệm giặt ủi, Nguyễn Phương Thảo vẫn theo dõi các hoạt động của Sơn Vương về hai phương diện văn chương và giang hồ.
Thỉnh thoảng Sơn Vương cũng ghé tiệm giặt ủi để xem người anh em làm ăn ra sao, nếu cần thì ông sẵn sàng giúp thêm vốn.
Bị mất một số tiền rất lớn là 50 ngàn đồng Đông Dương nhưng đối với Gaillard lại chẳng đáng là bao. Tuy nhiên tên này xuất thân từ dân đảo Corse, nơi sản sinh ra toàn những dân anh chị có máu mặt, đầu trộm đuôi cướp sừng sỏ nhất thế giới.
Hắn không thể nào bỏ qua vụ này, không thể nào chịu cảnh nhục để một công dân của đất nước nô lệ qua mặt mình. Hơn nữa, hắn rất muốn giáp mặt kẻ dám liều lĩnh vuốt râu hùm.
Hắn lập tức đến gặp tay Giám đốc Sở Mật thám Sài Gòn là cò Bazin nhờ tên này tung hết nhân viên truy bắt kẻ cướp cho bằng được với số tiền thưởng là một phần mười số tiền bị cướp, tức là 5 ngàn đồng.
Cò Bazin là một tay lão luyện trong nghề mật thám, là một kẻ khét tiếng ở bót Catinat Sài Gòn.
Đối với hắn, việc truy tìm ra kẻ cướp trong vụ này không khó lắm vì thời đó tại Sài Gòn chưa có nhiều xe hơi, mà lại là xe hơi sang trọng, nên việc truy tìm chiếc xe hơi tham gia vụ cướp là chuyện thật đơn giản.
Vài ngày sau, cò Bazin cho dán bố cáo khắp nơi treo giải thưởng 5 ngàn đồng Đông Dương cho ai chỉ bắt bọn cướp lái xe du lịch Clément Bayard.
Tiền thưởng quá lớn thúc giục đám mật thám đua nhau truy tìm. Nhờ chi tiết về hiệu chiếc xe mà công việc truy bắt trở nên dễ dàng.
Tội nghiệp Năm Đường đã được Sơn Vương chia cho mười ngàn đồng mà ăn ngủ không yên. Mỗi lần đám mật thám tới xét hỏi về chiếc xe Clément Bayard là Năm Đường lại nổi da gà.
Sau mấy đêm không ngủ, Năm Đường đành tới bót Catinat thú tội là đã cho Sơn Vương mượn chiếc xe để đi ăn cướp. Mặc dù Sơn Vương đã rời nơi trú ẩn, nhưng không sao lọt khỏi mạng lưới mật thám dày đặc của tên trùm Bazin.
Bắt được Sơn Vương, Bazin điện ngay cho Gaillard tới bót Catinat dự cuộc thẩm vấn. Nhưng trước khi diễn ra buổi thẩm vấn theo quy định, Bazin cho phép Gaillard đòi lại món nợ danh dự từ Sơn Vương bằng… luật rừng.
Đây là một trận đấu trí căng thẳng giữa một người là giang hồ nghĩa hiệp, còn kẻ kia là tay đầu trộm đuôi cướp đúng nghĩa.
Bởi René Gaillard không ai khác mà chính là em ruột của Charles Gaillard, một tay trộm cướp khét tiếng ở đảo Corse.
Cả hai đều là tù vượt ngục khám La Santé tại Paris, sau đó trốn qua Mỹ chuyên đánh cướp các ngân hàng. Vụ sau cùng, chúng tổ chức cướp một xe tiền rồi trốn qua Đông Dương mua cổ phần đồn điền cao su Mimot.
Giáp mặt René Gaillard trong khám, lại đang bị trói hai tay, Sơn Vương thần thái vẫn ung dung, bình tĩnh, không có chút gì run sợ. Ông nhìn tên phó giám đốc đồn điền cao su bằng một ánh mắt sắc lạnh và thách thức.
Gaillard được cò Bazin đưa cho một chiếc roi gân bò. Hắn trừng trừng vào Sơn Vương: “Tao tính giá rẻ mạt, cứ một ngàn là một roi. Mầy chịu nổi năm chục roi?”. Sơn Vương cười thách thức: “Chỉ sợ ông mỏi tay thôi”.
Thấy Sơn Vương không tỏ ra sợ sệt hay năn nỉ xin tha, Gaillard điên lên như con thú sắp vồ mồi. Hắn thẳng tay quất roi gân bò vô mình Sơn Vương đang bị còng hai tay.
Ngọn roi đầu xé rách chiếc áo sơ mi của Sơn Vương, mấy roi sau biến chiếc áo rách thành mớ bùi nhùi. Máu rịn theo các vết hằn trên da. Sơn Vương cắn răng vận nội công, hai mắt trợn trừng nhìn Gaillard như thôi miên.
Mới hơn mười roi Gaillard mà đã thấm mệt, trong khi đó Sơn Vương vẫn thản nhiên, không tỏ vẻ gì là đau đớn.
Tuy rất tức giận nhưng trong lòng thầm khâm phục một người dám làm dám chịu, gan dạ hơn người, Gaillard chắp tay bái phục và tuyên bố không đánh tiếp bốn mươi roi còn lại như hắn đã nói.
Gaillard quay sang cò Bazin: “Dân đảo Corse quê tôi nổi tiếng sản sinh những tay tướng cướp sừng sỏ nhất thế giới, nhưng so với thằng này thì ít ai hơn được. Anh hùng phải trọng anh hùng. Tôi không kiện cáo gì nữa. Ông hãy tha cho nó!”.
Như vậy, dù là người bị trói tay và bị đánh rất dã man, nhưng chính Sơn Vương lại là người chiến thắng trong cuộc “đọ sức” này.
Tuy nhiên, đối với tên trùm mật thám Bazin vốn là một tay máu lạnh thì không hề có ý muốn dung tha cho bất kỳ một ai. Điều này có nghĩa là Sơn Vương phải ra tòa lãnh án. Ông bị kết án 5 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Khi biết tin Sơn Vương bị kết án khổ sai, Nguyễn Phương Thảo mất ngủ mấy đêm liền. Ông tìm mọi cách để giúp Sơn Vương nhưng lực bất tòng tâm. Vào tù ra khám là chuyện tất nhiên của kẻ cướp dù tài ba đến mức nào. Biết vậy nhưng ông không khỏi ngậm ngùi cho số phận của Sơn Vương. Ông theo dõi liên tục vụ xử án trên báo hàng ngày như để chia buồn cùng người giang hồ mã thượng mà ông rất mực nể phục.
| Tháng 7/1936, Sơn Vương được trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù Sơn Vương tổ chức đập phá khám để phản đối vụ một giám đốc người Pháp tra khảo anh bồi đến chết vì nghi ăn cắp 200 đồng. Do đó, ông bị đày ra đảo Phú Quốc, đến tháng 2/1938 thì được thả. Ngày 16/8/1938 Sơn Vương lại bị vào tù vì tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại Campuchia. Ông cưa còng trốn qua Thái Lan và bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 11/12/1945, dưới sự chứng kiến của phái đoàn Ủy ban Hành chính Nam Bộ, một cuộc bầu cử dân chủ trên đảo được tiến hành. Sơn Vương Trương Văn Thoại trở thành Chủ tịch Ủy ban Hành chính Côn Đảo. Ngày 8/4/1946, Pháp tái chiếm Côn Đảo, Sơn Vương và toàn bộ tù thường phạm còn lại (gồm 400 người) lại bị tống giam. Để trả thù Sơn Vương, cảnh sát trưởng Nguyễn Thành Út vu cáo ông đang giữ tấm bản đồ kho báu của vua Gia Long giấu lại trên đảo. Sơn Vương bị chúa đảo Gimbert và tên cò Pellier tra tấn hết sức dã man để khai ra nơi giấu tấm bản đồ. Năm 1947, Sơn Vương bị đưa về Sài Gòn, ra tòa, bị kêu án tù chung thân khổ sai và bị đưa ra lại Côn Đảo. Ngày 8/8/1953, ông giết Nguyễn Thành Út, kẻ đã vu oan giá họa cho ông trong vụ “kho báu”. Với tội này, Sơn Vương nhận thêm một án chung thân khổ sai. Theo quy định lúc ấy, án chung thân được tính là 32 năm. Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 án 5 năm, 1 án 10 năm và 2 án chung thân (32 năm). Tổng cộng, ông phải nhận mức án là 79 năm tù. Đến năm 1968, Ủy ban cải thiện chế độ lao tù lên án chế độ lao tù, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mới hủy bản án 79 năm của ông chỉ còn lại 35 năm tù giam. Ngày 18/11/1968, Sơn Vương được phóng thích sau 34 năm ngồi tù. Trở lại đời thường, ông cho đăng thiên phóng sự “Sơn Vương - Người tù thế kỷ” trên một số báo, gây xôn xao dư luận. Sau đó, ông lặng lẽ lui về sống ẩn dật ở một ngôi nhà nhỏ trong con hẻm ngoằn ngoèo ở đường Nguyễn Cư Trinh, quận 1, TP.HCM, mưu sinh bằng nghề bốc thuốc Nam gia truyền. Năm 1980, Sơn Vương về lại quê hương Gò Công và mất năm 1987 tại quê nhà. |
- Duy Tường











