Chủ Nhật, 08/07/2012, 06:09 [GMT+7]
.
.

Người mẹ huyền thoại và mối tình sắt son

(Đời sống) - Đó là câu chuyện về cuộc đời của một người nữ hộ sinh có chồng đi tập kết nhận nuôi những đứa trẻ sơ sinh là con của các cán bộ tình báo. Bà là Nguyễn Thị Hường, vốn là nguyên mẫu trong bộ phim “Huyền thoại về người mẹ” do Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam xây dựng.


Ngay lần đầu khởi chiếu, bộ phim đã khiến hàng triệu khán giả trong và ngoài nước xúc động rơi nước mắt. Phim đã nhận được giải thưởng Bông sen bạc trong Liên hoan phim Việt Nam 1988.

Mẹ Hường hiện ở số nhà 35/4, đường 1/5, phường Đống Đa, Quy Nhơn, Bình Định. Gặp mẹ Hường mới thấy ít người biết được hết cuộc đời thực đầy gian khổ và mối tình đẫm lệ của mẹ.

21 năm chờ đợi, ngày hội ngộ lại quyết nhường chồng

Bà bảy Hường ở trong căn nhà nhỏ nơi con hẻm sâu hun hút, ít người viếng thăm. Chúng tôi vào gặp ông hỏi thăm về bà thì nhận được một nụ cười và câu nói hồn hậu: “Bà ấy à, đang làm thơ kia kìa, còn yêu đời lắm”.

Câu nói ấy chứa đựng bao yêu thương của đôi bạn già đã kinh qua những ngày tháng chiến tranh đầy khốc liệt và cả muôn vàn khó khăn của cuộc sống đời thường. Bà Hường kể lại chuyện xưa mà đôi mắt lúc nào cũng ươn ướt.

Mẹ Nguyễn Thị Hường
Mẹ Nguyễn Thị Hường

Người mẹ huyền thoại ấy đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình cho việc nuôi giấu những đứa con liệt sĩ, trẻ em đường phố.

Nữ du kích Nguyễn Thị Hường có vẻ xinh đẹp mặn mòi của con gái duyên hải. Duyên phận run rủi đã đưa cô du kích gặp gỡ anh thợ máy Trương Liêm, người đồng chí đồng cam cộng khổ. Ông quê ở Phù Cát, Bình Định vào Quy Nhơn công tác.

Ông là cán bộ nhà máy giấy còn bà là giao liên, hai người gặp nhau trong những đợt xuống cơ sở vận động quần chúng cách mạng. Họ cảm mến nhau nhưng còn e dè chưa dám thổ lộ. Ông Liêm mạnh dạn về thưa cùng cha mẹ đến dạm ngõ nhà bà.

Thế rồi hai bên gia đình tác hợp cho ông bà thành vợ thành chồng. “Nhưng hồi ấy, chúng tôi hạnh phúc bên nhau chỉ vỏn vẹn có 3 ngày thì ông vội vã lên đường ra Bắc tập kết…” - bà kể trong tiếc nuối. Song có ai ngờ được rằng, ông Trương Liêm đi biền biệt 21 năm trời.

Ngần ấy thời gian hai người bặt tin nhau. Người thiếu phụ xinh đẹp và thông minh ấy hút hồn không ít những tên lính Mỹ, Ngụy. Chúng buông ra những lời tán tỉnh cũng như dụ dỗ bà. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả, bà sắt son một lòng một dạ chờ đợi chồng và lao vào làm công tác cách mạng.

Ý chí kiên cường của một nữ chiến sĩ cách mạng đã giúp bà vượt qua tất cả. Dụ dỗ không được, địch đã bỏ tù bà suốt 8 năm liền. Ra tù, bà còn vất vả hơn nữa vì căn nhà và miếng đất rộng mà cha mẹ để lại giờ đây đã bị kẻ khác chiếm mất.

Cho mãi đến tận hôm nay, mẹ Hường vẫn đau đáu một mối lo là làm sao lấy lại miếng đất mồ hôi xương máu của cha mình.

Tháng 4/1975, đất nước giải phóng, mẹ Hường háo hức chờ ngày đón chồng trở về với mình. Nhưng ngày trở về, ông đưa theo một người vợ quê ở Nam Định và 2 đứa con.

Trước tình cảnh trớ trêu này, nghĩ mình chưa vướng bận gì, dù rất đau lòng nhưng mẹ Hường nuốt nước mắt vào trong, quyết định nhường chồng cho người phụ nữ kia. Tuy nhiên, ông và gia đình bên nội không chịu, ép buộc bà phải hàn gắn.

Mẹ Hường kể: “Bà mẹ chồng tôi cứ động viên mãi, do hoàn cảnh đất nước loạn ly nó vậy chứ có ai muốn thế đâu”.

Năm 1976, ông bà mới có một đứa con duy nhất khi bà đã luống tuổi và sinh con vô cùng khó khăn. Người mẹ ấy đã vượt cạn trăm bề gian khổ  vì mong muốn có được một đứa con cho riêng mình.

Đứa trẻ sinh ra ốm yếu, dặt dẹo mãi nhưng rồi mẹ nuôi cũng được, niềm hạnh phúc bình dị nhưng vô cùng giá trị. “Cũng thật là may mắn chứ tôi ngần ấy tuổi rồi còn hy vọng gì con cái nữa đâu, ấy thế mà con bé cũng mới lấy chồng và có con rồi đấy” - mẹ Hường khoe.

Bà vợ hai của ông Trương Liêm sớm qua đời, bà Nguyễn Thị Hường lại tiếp tục làm mẹ của hai đứa con chồng, gánh nặng lại chất thêm trên đôi vai người mẹ nghèo. “Các con tôi đông như thế, nhưng rất thương yêu nhau, không bao giờ chúng cãi cọ hay tranh giành nhau cái gì, khi khó khăn là sẵn sàng lo cho nhau” - bà Nguyễn Thị Hường tự hào.

Hy sinh tuổi xuân nuôi đàn con côi cút

Dường như, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, mẹ Hường đã không có một phút nào lo cho hạnh phúc riêng tư của mình. Người mẹ huyền thoại ấy đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình cho việc nuôi giấu những đứa con liệt sĩ, trẻ em đường phố.

Khi mới 13 tuổi, bà là giao liên thị ủy Quy Nhơn. Gần 20 tuổi, bà là khu đội phó du kích khu 5. Những năm 1950-1955, bà bám trụ cơ sở. Lãnh đạo thị ủy đi tập kết, ở lại bà giữ tài liệu và súng ống, đạn dược.

Những ngày oanh liệt ấy, bà Hường kiêm rất nhiều nhiệm vụ. Bà tham gia đào hào, đào hố gài chông mìn, vận chuyển lương thực cho bộ đội đánh Nhật, vận động bà con đấu tranh phá bỏ ấp chiến lược, nhận nuôi nấng những đứa con của đồng đội đã hy sinh…

Tháng 4/1952, nhờ thông tin tình báo của bà, Quy Nhơn đối phó thành công một trận càn rất lớn của địch. Bà không còn nhớ nổi kẻ thù đã bắt bỏ tù bà bao nhiêu lần. Trong bản xác nhận của ông Nguyễn Văn Lạc, nguyên Trưởng Tiểu ban quân sự, khu đội trưởng khu phố V, thị xã Quy Nhơn có viết:

“Bà là một nữ dân quân du kích thông minh, dũng cảm, nhiều mưu mẹo luôn bám sát địa bàn”. Kẻ thù đánh hơi những việc làm của bà, chúng tức tối kéo nhau tới nhà bà đập phá rồi đốt sạch nhà cửa. Sau đó, chúng đuổi cả nhà ra sống vất vưởng dưới gốc cây mận trước sân.

Cha bà Hường đã thổ huyết, tắt thở sau những trận đòn roi của bọn cai Pháp”. “Không giường không chiếu, chúng tôi phải lót rơm để nằm. Không cơm ăn, chúng tôi ăn vỏ củ mì. Cả nhà ai cũng đi làm muối.

Thời Pháp thuộc, hốt muối không kịp là tụi nó đánh. Hồi đó, chị em chúng tôi chỉ có hai bộ đồ chứ mấy. Áo quần có đến mấy chục miếng vá. Chấy rận cứ ở trong quần. Nhúng nước sôi rồi mà không hiểu sao sáng ra cũng thấy bò ra… Bà già tôi phải đi lấy mo cau và rễ dứa để làm dép cho tụi tôi đi” - Bà ngậm ngùi kể lại.

Năm 1963, người phụ nữ chưa một lần sinh nở đã làm mẹ của những đứa con mồ côi. Bà Nguyễn Thị Hường xúc động kể lại:

“Lúc này địch càn quét dữ dội. Một đồng chí ở huyện Hoài Nhơn hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ để lại bé gái chưa đầy 2 tuổi. Tui đứng ra nhận công việc mới này. Nói thật, lúc ấy, tôi chưa từng làm mẹ nên cũng lóng ngóng. Đứa bé ốm nhom, thiếu sữa mẹ khóc cả ngày đêm. Tôi phải thức khuya dậy sớm để nấu cháo, mua đậu nành xay với gạo lức cho con ăn”.

Năm 1967, khi đứa con nuôi đầu tiên được 4 tuổi, bà lại nhận được mật lệnh ra chợ huyện Phù Cát, cách thị xã Quy Nhơn 35 km làm nhiệm vụ mới.

“Lúc này tôi phải có trách nhiệm cứu một phụ nữ mang thai được 7 tháng, hai chân dập nát vì bị pháo địch bắn trúng khi đang ẩn dưới hầm công sự. Suốt một ngày một đêm máu ra quá nhiều nên chị đã kiệt sức.

Tôi đề nghị chuyển chị xuống bệnh viện thị xã Quy Nhơn. Hai đồng chí nữ giả làm nông dân đi cắt lúa khiêng cán thương. Khi họ đi qua một cánh đồng thì một chiếc trực thăng của địch đã sà xuống ngay. Mấy thằng Mỹ trên trực thăng chĩa súng xuống, hỏi dồn: “Vixi?” (Việt cộng).

Hai chị nói là bà con đi cắt lúa bị tai nạn. Thấy mình cầm dao liềm sẵn nên chúng không nghi ngờ gì và bốc cả thảy lên máy bay. Tại bệnh viện Quy Nhơn, người mẹ tên Hoa đã hy sinh, để lại đứa con đẻ non, chỉ nặng 1,6kg, phải nuôi trong lồng kính 6 tháng.

Mỗi tháng tôi phải tốn số tiền tương đương với một lượng vàng để nuôi nó”. Hàng ngày, bà luôn túc trực chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ cho những đứa trẻ. Có hôm bà không có ở nhà, mẹ lại đi vắng, bà phải pha sẵn 24 bình sữa và ghi giờ cho ăn lên bảng để các cô hộ sinh cho các cháu ăn giúp.

Năm 1968, tổ chức bố trí cài hai nữ đồng chí vào phá huỷ kho đạn Đèo Son (Quy Nhơn), chặn bước chân đẫm máu của địch trước khi lên Tây Nguyên. Hai nữ đồng chí hy sinh, để lại hai đứa con miệng còn hơi sữa, mẹ Hường lại đứng ra thay họ nuôi cả hai đứa nhỏ.

Năm 1971, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Đảng ta chuyển địa bàn chiến lược về nông thôn, chuẩn bị cho cuộc tiến công xuân 1972. Bà Hường lại tiếp tục nhận mật lệnh của cấp trên nhận nuôi một đứa trẻ vừa mới ra đời được ba tháng tuổi con trai của hai đồng chí thoát li gửi lại…

Sau ngày giải phóng, bà Hường nhận làm mẹ của hai bé gái là Lê Thị Xuân và Lê Thị Hạnh. Nhiều người đã hy sinh như Ý; tiếp đến là Bùng, rồi đến Báu, Dừa; và các “cô bé” Liên, Kháng, Tần, Đính.... Những người người còn lại đã trưởng thành làm cán bộ rồi về hưu, có người cũng đã làm bà ngoại.

Có người ở ĐắkLắk, người ở Lâm Đồng, Sài Gòn, có người sang tận bên Mỹ. Họ thường về thăm mẹ mỗi khi mẹ ốm đau. Từ khi  bị tai biến, sức khỏe của bà yếu đi rất nhiều, các con lại bận rộn làm ăn nên một tay ông Trương Liêm lo lắng cho bà.

Giờ đây, nhìn ông lão ngoài 80 đang cặm cụi bếp núc, nhà cửa ai cũng nhận ra tình thương mà ông dành cho bà nhiều đến mức nào.

Ở cái tuổi 82, sức khỏe của bà Nguyễn Thị Hường đã rất yếu. Nhưng bà vẫn còn tiếp tục tham gia công tác xã hội. Từ năm 2004, bà Hường đã cùng chồng xây dựng được sáu đội thanh thiếu niên gồm 130 học sinh nghèo hiếu học.

Mẹ Hường đặc biệt quan tâm cưu mang trẻ em nghèo khổ, mồ côi được chăm sóc bởi bàn tay “Bồ Tát giữa đời thường”. Bà giúp đỡ cho các em học trò nghèo học giỏi tiếp tục theo đuổi con đường học vấn.

Bà đã xây dựng hũ tiền tiết kiệm và vận động quyên góp từ các nhà hảo tâm để có tiền giúp đỡ các cháu. Năm 1978, bà Nguyễn Thị Hường được mời ra Nhà hát Lớn Hà Nội báo cáo thành tích trong một hội nghị toàn quốc.

Tại đây, bà Hường đã kể lại câu chuyện của đời mình khiến rất nhiều đại biểu, nhiều nhà báo trong và ngoài nước phải lặng đi. Buổi gặp gỡ cảm động  đó đã khiến các đạo diễn quyết định làm bộ phim “Huyền thoại về người mẹ”.

Bà kể lại: “Hai vợ chồng ông nhà báo Liên Xô hỏi rất nhiều, họ viết bài báo tên là “Người mẹ Nghĩa Bình”, họ tặng báo cho tôi, rồi năm 1984, họ còn đưa cả vợ chồng con cái tìm vào tận nhà ven đầm Thị Nại của tôi để thăm hỏi và tặng quà.

NSND Trà Giang người thủ vai chính cũng gặp tôi tại hội nghị đó. Từ đó, bà Nguyễn Thị Hường trở thành nguyên mẫu nhân vật chính trong phim, bà dẫn đoàn đi quay ở khắp các địa điểm bà từng hoạt động như Đảo Yến, đầm Thị Nại, Tịnh Xá Ngọc Nhơn...

Hai toa xe lửa toàn thiết bị máy móc được chuyển từ Hà Nội vào quay suốt 6 tháng trời. Từ đó đến nay, NSND Trà Giang luôn bỏ tiền túi và vận động báo chí giúp đỡ bà Nguyễn Thị Hường như một nghĩa cử cao đẹp.

Bây giờ, với mức lương hưu khoảng 1 triệu đồng, “bà mẹ huyền thoại” không đủ tiền thuốc men những khi đau ốm, nhưng vẫn luôn giúp đỡ các học sinh hiếu học.

Tuổi tác, bệnh tật với vết thương chiến tranh cùng những khó khăn vật chất không thể làm phai nhạt mối tình của hai vợ chồng người chiến sĩ cách mạng này.

  • Hải Dương
;
.
.
.