Thứ Năm, 14/06/2012, 11:50 [GMT+7]
.
.

Chùm thơ của Nicolai Roerich

(Lửa thiêng)- Thơ ông là sự khao khát được hòa hợp với tinh thần của Chúa tể của sự sống. Không phải sự khắc khoải mong ngóng thụ động như một lời cầu xin trong đêm vắng mà nó được thể hiện trong từng hành vi sống mỗi ngày.

Nicolai Roerich vừa là họa sĩ, nhà thơ, nhà tư tưởng, nhà thần học....và ông đặc biệt nổi danh ở lĩnh vực hội họa ngay từ tác phẩm đầu tay mang tên "Người chạy tin khẩn cấp". Với thơ ca, có thể nhận xét không lầm rằng, Nicolai Roerich là nhà thơ thần hiệp bẩm sinh.

Thơ ông là sự khao khát được hòa hợp với tinh thần của Chúa tể sự sống. Không phải sự khắc khoải mong ngóng thụ động như một lời cầu xin trong đêm vắng mà nó được thể hiện trong từng hành vi sống mỗi ngày, chính xác là được thể hiện bằng niềm vui sáng tạo, thấu hiểu và thông hội với thế giới tự nhiên và qua đó nhận ra đấng chủ thể vĩ đại. Quan niệm này của ông có sự tương giao với Liev Tostoi, Tagore, Neru...những vĩ nhân sống cùng thời với ông và ông có quan hệ tinh thần khá đặc biệt.

Có thể, sau khi đọc chùm thơ này, nhiều độc giả sẽ vội cho rằng, khí thơ và cách thể hiện tình yêu với Thượng đế của Roerich gần gũi và giống với Tagore. Nhưng chỉ cần đọc kỹ hơn một chút sẽ thấy ngay sự khác biệt không thể nhầm lẫn được. Nếu Tagore là bài ca thuận phục vô điều kiện, là nỗi hân hoan dịu dàng trước tình yêu vô lượng của thượng đế thì Roerich là tiếng nói của lý trí kiên định, không hồ nghi trước đức tin của mình. 

Tagore viết những câu thơ xuất thần đầy hứng cảm: Khi người ra lệnh cho tôi hát/ Trái tim tôi vỡ ra vì nỗi tự hào...Roerich viết những lời thơ kiên định tỉnh táo đến lạ lùng: Vậy cứ để Thượng Đế trừng trị tôi –Tôi sẽ không lìa rời /Cái tốt đẹp nhất dẫn tôi đến với Người. Hai thiên tài giống và khác nhau như thế đấy.

Tình yêu, đức khiêm hạ và thái độ an nhiên tự tại của một lữ khách hành giả nơi ông có lẽ đã khá xa lạ với giới trẻ ngày nay nhưng trong chiều hướng phát triển của nhân loại, trên đường đến đích toàn hảo thì tiếng nói thơ ca của Roerich vẫn mãi mãi như một giếng nước trong mát giữa sa mạc, bên con đường hành hương...

Được sự đồng ý của PGS Phạm Vĩnh Cư, Lửa thiêng xin giới thiệu chùm thơ của Nicolai Roerich sáng tác từ 1916-1921, dường như bão táp cách mạng tháng 10 Nga không mấy ảnh hưởng và tuyệt nhiên không để lại một dấu vết nhỏ nào trong thơ ca.

Nguồn hứng khởi thơ ca nơi ông đến từ một địa chỉ khác...

Họa phẩm của Roerich
Họa phẩm của Roerich

 

        Những ký hiệu thiêng

Chúng ta không biết. Nhưng chúng biết.

Đá biết. Cây cối cũng biết

Và nhớ.

Nhớ ai đã đặt tên cho núi

Và cho sông.

Ai đã cất lên những thành đô

Xa xưa nhất. Ai đã cho tên gọi

Những vương quốc thượng cổ.

Những từ giờ ta không hiểu.

Nhưng chúng tất cả chứa chan nghĩa.

Tất cả chứa chan kỳ tích.

Những anh hùng từng đi qua

Khắp chốn.

“Biết” – một từ ngọt ngào.

“Nhớ” – một từ đáng sợ.

Biết và nhớ. Nhớ và biết.

Tức là – tin.

Những tàu bay từng bay trong không trung.

Lửa lỏng từng trút xuống mặt đất.

Từng chói sáng

Tia lửa của sự sống và sự chết.

Sức mạnh tinh thần từng nâng cao

Những núi đá. Và từng rèn dũa

Thanh kiếm thần. Những ký tự

Ngàn đời giữ kín những bí mật anh minh.

Rồi tất cả lại bày tỏ. Tất cả lại mới.

Huyền thoại, truyền thuyết trở thành cuộc sống.

Và chúng ta lại sống.

Và lại đổi thay. Và lại

Trở về đất.

Cái hôm nay vĩ đại ngày mai sẽ lụi tàn.

Nhưng vào đúng lúc sẽ hiển hiện

Những ký hiệu thiêng.

Nhưng loài người lại không nhận ra chúng.

Ai biết được? Nhưng chỉ chúng

Mới dựng xây sự sống. Vậy ở đâu

Những ký hiệu thiêng?

Chúng tôi đi tìm những ký hiệu thiêng.

Đi thận trọng và lặng lẽ.

Có những người vừa đi vừa cười vừa gọi đi theo họ.

Những người khác thì vội vã, bất bình.

Có những người dọa nạt chúng tôi,

Muốn tước đoạt cái chúng tôi có.

Họ không biết chúng tôi ra đi

Để tìm những ký hiệu thiêng.

Nhưng những người dọa nạt sẽ đi qua.

Họ có quá nhiều việc.

Còn chúng tôi sẽ cứ tìm những ký hiệu thiêng.

Không ai biết Chủ để lại ở đâu

Những ký hiệu của mình.

Nhiều phần hơn cả – trên những tảng đá bên đường,

Hay là trên những gốc cây,

Hay trong những bông hoa, trên những làn sóng sông.

Chúng tôi nghĩ cũng có thể tìm thấy chúng

Trên những vòm mây.

Trong ánh sáng mặt trời, trong ánh trăng,

Trong ánh sáng của nhựa cây và của đống lửa.

Trong ánh sáng của đom đóm

Chúng tôi sẽ tìm những ký hiệu thiêng.

Chúng tôi đi lâu.

Chúng tôi nhìn chăm chú.

Đã nhiều người vượt qua chúng tôi.

Chúng tôi có cảm tưởng họ cũng thông tỏ

Lệnh tìm cho ra những ký hiệu thiêng.

Trời xẩm tối.

Đã khó nhận ra đường.

Cảnh vật xung quanh lạ lẫm.

Vậy chúng có thể ở đâu –

Những ký hiệu thiêng?

Chắc hôm nay chúng tôi

Sẽ không tìm thấy chúng.

Nhưng ngày mai lại sáng.

Tôi biết: chúng tôi sẽ tìm ra.

                                               Trước 1916

 

          Trên cổng cuối cùng

Người ta bảo chúng tôi: “Không được”

Thế nhưng chúng tôi vẫn vào được.

Chúng tôi từng đến gần nhiều cổng

Và đâu đâu cũng nghe thấy: “Không được”.

Chúng tôi muốn trông thấy những ký hiệu.

Chúng tôi muốn thắp lên ánh sáng.

Người ta bảo: “Không được”

–       Hỡi các vị gác cổng

Đã bạc đầu, từng thấy, từng biết!

Các vị sai rồi đấy!

Ông chủ cho phép biết.

Ông chủ cho phép thấy.

Chắc ngài muốn cho chúng tôi

Được biết và được thấy.

Đằng sau cổng một sứ giả đang đứng,

Chắc mang đến cho chúng tôi cái gì đó.

Cho chúng tôi vào đi, hỡi những người canh gác!

“Không được” – Họ lại nói với chúng tôi

Và khép chặt cổng.

Thế nhưng chúng tôi đã đi qua

Bao nhiêu cổng. Đã lọt qua.

Và “được” từng ở lại đằng sau chúng tôi.

Ở cổng nào những người gác

Cũng ngại chúng tôi. Và cầu khẩn. Và dọa dẫm.

Và cảnh báo: “Không được đâu”.

Chúng tôi đã lấp đầy khắp nơi cái “không được” ấy.

Không được – tất cả. Không được – với tất cả.

Không được – về tất cả.

Thế mà đằng sau chúng tôi đâu đâu cũng “được”.

Nhưng trên cổng cuối cùng

Chúng tôi sẽ đọc: “Được”

Những gì ở đằng sau sẽ “không được”.

Ngài đã sai viết thế

Trên cổng

                      cuối cùng.

                                                                1916             

         Lẫn vào đám đông

Bộ y phục của tôi đã sẵn sàng. Bây giờ

Tôi sẽ đeo mặt nạ lên mặt. Đừng ngạc nhiên

Hỡi bạn, nếu thấy mặt nạ

Đáng sợ. Vì đó chỉ là

Mặt nạ. Chúng ta sẽ phải ra

Khỏi nhà. Sẽ gặp ai?

Ta không biết. Sẽ xuất hiện trước ai?

Ta cũng không biết. Hãy tự vệ

Bằng lá chắn trước bày hung dữ.

Bạn khó chịu với mặt nạ?

Nó không giống tôi phải không?

Dưới lông mày không thấy mắt?

Trán quá nhiều vết nhăn?

Nhưng rồi ta sẽ cởi mặt nạ

Và mỉm cười với nhau.

Còn bây giờ

                   hãy lẫn vào đám đông. 

                                                      1918

          Đến với Người

Cuối cùng tôi tìm được một tu sĩ ở ẩn giữa hoang mạc.

Các bạn biết trên mặt đất khó khăn sao

Mới tìm được một tu sĩ ở ẩn giữa hoang mạc.

Tôi van xin liệu ông có chỉ đường

Cho tôi và liệu có độ lượng

Tiếp nhận những công trình của tôi.

Vị tu sĩ nhìn tôi hồi lâu rồi hỏi

Cái gì yêu dấu nhất với tôi?

Cái gì quý giá nhất? “Cái đẹp” –

Tôi trả lời. “Vậy ngươi phải lìa rời

Cái yêu dấu nhất ấy” “Ai dạy?”

“Thượng Đế” – vị tu sĩ trả lời.

Vậy cứ để Thượng Đế trừng trị tôi –

Tôi sẽ không lìa rời

Cái tốt đẹp nhất dẫn tôi đến với Người.

                                                      1918

               Người dẫn đưa

Hỡi Người Đến trong đêm lặng im,

Thiên hạ nói Người vô ảnh vô hình.

Nhưng không phải.

Tôi biết hàng trăm sinh linh

Đã từng thấy Người

Dù chỉ một lần duy nhất.

Một số nghèo thảm thương, ngu ngốc

Đã không nhận ra gương mặt Người

Biến đổi muôn hình vạn trạng.

Người đã không muốn quấy nhiễu

Cuộc sống của chúng tôi. Không muốn gậy sợ.

Và Người đi qua trong lặng lẽ âm thầm.

Mắt Người có thể sáng chói,

Giọng Người có thể vang dội,

Tay Người có thể quá nặng

Ngay cho tảng đá đen.

Nhưng Người không sáng chói,

Người không vang dội,

Không tàn phá. Người biết

Sự phá phách vô giá trị so với an ninh.

Người biết sự tĩnh lặng

Oanh liệt hơn sấm sét.

                                    Người rất biết,

Hỡi Người dẫn đến và đưa đi trong lặng im.

                                                                      1916

                

              Không hiểu

Tôi không biết khi nào lời người có sức mạnh.

Đôi khi người trở lên quá đỗi bình thường

Giấu mình ngồi giữa lũ ngu đại ngôn

Ít hiểu biết đến thế. Có lúc người nói

Mà hình như chẳng mảy may buồn phiền

Khi thấy chẳng ai hiểu người.

Có lúc người nhìn kẻ không có tri thức

Âu yếm đến nỗi tôi phải phát ghen

Sự vô tri nơi hắn. Cứ như người chẳng hề lo lắng

Cho thiên hạ nhận ra mình. Và khi

Người nghe những diễn từ của ngày hôm qua

Người thậm chí còn cụp mắt như gắng tìm

Những lời giản dị nhất để đáp lại.

Thật khó biết những chí hướng của người.

Thật không dễ đi theo người.

Đấy hôm qua khi người bắt chuyện với mấy con gấu,

Tôi có cảm tưởng chúng đã bỏ đi

Vì không hiểu người.

                                                           1918

                  Tình yêu?

Một ngày khác thường! Cùng một lúc

Rất nhiều người đến với chúng tôi.

Họ lại đưa đến nhiều người

Chúng tôi chưa hề quen biết.

Tôi chưa kịp hỏi han gì về họ

Tồi tệ nhất là họ nói

Những thứ tiếng chúng tôi hoàn toàn không hiểu.

Và thế là tôi chỉ biết cười

Nghe những lời nói kỳ lạ của họ.

Tiếng nói một số người thật giống

Tiếng coóc – coóc của đại bàng.

Những người khác thì xuýt như rắn.

Có lúc tôi nghe ra tiếng sói rú.

Có lúc như kim loại loé sáng,

Có lúc trở nên dữ dội

Như núi đổ

Như mưa đá rơi

Như thác ồn ào.

Tôi thì chỉ cười. Làm sao tôi biết được

Những lời của họ có ý nghĩa gì?

Có thể bằng những ngôn ngữ của mình

Họ lặp đi lặp lại

Cái từ mà chúng ta ưa thích đến thế:

                                              tình yêu?

                                                            1920

                Nhận thấy

Một người lạ mặt dọn đến ở

Bên cạnh vườn của chúng tôi.

Mỗi sáng ông gẩy đàn gusli

Và hát bài hát của mình.

Chúng tôi tưởng ông lặp đi lặp lại,

Nhưng bài hát của người lạ mặt

Luôn luôn mới. Và từ đâu đó nhiều người

Đến tụ hợp trước cổng nhà chúng tôi.

Chúng tôi lớn lên. Người anh cả

Đã đi làm. Còn cô chị

Thì sửa soạn lấy chồng.

Chúng tôi sang mời ông

Hát trong lễ cưới của chị.

Vừa mời, chúng tôi vừa hỏi:

Ông lấy đâu ra

Nhiều lời mới đến thế cho bài hát của mình

Và bài ca của ông còn mới mẻ bao lâu nữa?

Ông tỏ vẻ rất ngạc nhiên

Và, vuốt chòm râu bạc, nói thong thả:

“Thế mà tôi cứ tưởng

Mới đến đây với các bạn hôm qua

Và còn chưa kịp kể

Cho các bạn về những gì

Xung quanh mình

                            tôi nhận thấy.”

                                                      1919

            Viên ngọc trai

Lại sứ giả! Lại mệnh lệnh của Người.

Và tặng phẩm của Người.

Người gửi tặng tôi

Một viên ngọc trai của mình và sai

Luồn nó vào dây đeo của tôi.

Nhưng Giáo Chủ của tôi, người biết quá

Rằng chuỗi ngọc của tôi là ngọc giả

Và nó dài như có thể dài

Chỉ những đồ giả.

Tặng phẩm óng ánh của Người

Sẽ lu mờ giữa những đồ chơi

Rẻ tiền. Nhưng Người đã lệnh.

Và tôi thi hành.

 

Hỡi những kẻ đàng điếm,

Hãy nhận ra trong dây đeo của ta

Viên ngọc trai

                       Giáo Chủ ta tặng!

                                                   1920

           Bằng nụ cười?

Sứ giả, vị sứ giả của ta!

Người cứ đứng cười mà không biết

Đã mang đến cho ta cái gì.

Người đã mang đến cho ta

Tài chữa trị. Giọt nước mắt của ta

Sẽ chữa trị mọi bệnh tật của nhân thế.

Nhưng Giáo Chủ của tôi, tôi lấy đâu ra

Bằng ấy nước mắt và phải dành dòng lệ đầu tiên

Cho bệnh nào? Sứ giả,

Sứ giả của tôi, người cứ đứng

Và cười mỉm. Hay là người

Mang theo cả lệnh

Chữa trị bằng nụ cười?

                                               1921

;
.
.
.