Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp (III)
(Lửa thiêng)- Trong quan niệm của ông con người là ở giữa những con người. Ý nghĩa đạo đức theo ông là ý nghĩa đạo đức xã hội, dù thậm chí không phải ở mức độ như Aristotle – với Aristotle thì đạo đức có thể dẫn xuất ra được từ chính trị.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
> Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp
> Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp (II)
IV
![]() |
| Ngọn đuốc tự do Hy Lạp |
Cho tới nay một điều tầm thường sáo mòn ai cũng biết là những người Hy Lạp thời kỳ cổ điển, đặc biệt ở Athens và Sparta ở thế kỷ thứ năm trước công nguyên, quan niệm con người bằng những từ ngữ có bản chất xã hội. Bằng chứng về điều này chẳng cần phải viện dẫn. Bi kịch và hài kịch cổ điển ở thế kỷ thứ năm, các sử gia Herodotus[17] và Thucydides[18] xem đời sống tự nhiên của con người cứ như là đời sống được định chế hóa của polis.[19] Ý kiến kháng cự lại điều này – nhân danh tự do cá nhân hay thậm chí một sự thoái lui hòa bình khỏi nơi giao dịch công cộng lui về cuộc sống riêng tư – cũng khó mà hình dung được.
Những thằng ngốc (Idiotes) có nghĩa trực tiếp là “công dân ở nhà” (private citizen), nhưng trong chừng mực liên quan đến diện mạo con người chỉ lo việc riêng tư của bản thân mình gây tổn hại cho công việc của thành bang, nó có thể có ý nghĩa chê bai giống như từ ngữ hiện đại liên quan đến từ đó về mặt từ nguyên.
Còn đối với các triết gia – những người khảo sát có ý thức những ý kiến được công chúng chấp nhận xem như là đúng và được thẩm tra xét từ những mục đích tối hậu của cuộc đời – nếu chúng ta lấy hai bậc thầy vĩ đại mà những trước tác của họ bao trùm tư duy Hy Lạp và cả mãi sau này – Plato và Aristotle – thì sự nhấn mạnh đến các giá trị xã hội là áp đảo trong các tác phẩm của họ. Aristotle nói:”Không được nói là một công dân thuộc về chính bản thân anh ta, mà phải nói là toàn bộ con người công dân thuộc về polis: bởi vì con người cá nhân là một bộ phận của polis.”[20]
![]() |
| Trường học Athens- tranh tường nhà thờ Sixtin của Raphael |
Sự khẳng định giản dị ấy có thể còn nguyên giá trị như một công thức tổng kết thái độ của tất cả các nhà tư tưởng chủ yếu của Athens cổ điển. Aristotle thận trọng hạn định luận đề này để khỏi có một tình trạng quá đơn điệu ở thành bang. Các công dân không nên bị nghiền nát ra, những khác biệt trong tính cách và thái độ cần phải được dành cho không gian thỏa đáng để chúng tự thể hiện mình.
Những đức hạnh mà Aristotle thảo luận phần lớn là những đặc trưng của con người trong giao tiếp với nhau trong bối cảnh xã hội: hình ảnh lý tưởng về con người hào phóng, lỗi lạc, giàu có, có tinh thần vì việc chung với cái nhìn tự do khóng khoáng, phẩm cách cao và tầm cỡ lớn, vượt lên trên một công dân thường thường bậc trung, là không thể quan niệm được, ngoại trừ trong một xã hội có trật tự, được tổ chức tốt.
“Con người về bản chất được sinh ra để sống trong một polis.”[21] Tình cảm ấy là chủ chốt trong các bản văn cổ điển của nghệ thuật và tư tưởng Hy Lạp còn lưu giữ lại được. Có vẻ như không cần thiết phải có luận cứ nào để thiết lập giả định này, vì nó là thứ gì đó thật hiển nhiên khiến cho tất cả những người có đầu óc lành mạnh đều tin vào mà không tra vấn, nó là một bộ phận của nhận xét chung về con người. Cảnh cô đơn chỉ có ở nơi thần linh hay thú vật: đó là con người cấp thấp hay con người siêu nhiên.
Thái độ này cũng là thái độ chung của Plato bất chấp sự kinh tởm của ông đối với nền dân chủ Athens. Một số môn đệ của Plato cho rằng ông quan tâm nhiều đến việc tâm hồn cá nhân có trật tự đúng đắn, hơn là việc tổ chức xã hội và chính trị. Đôi khi ông nhận xét về hiệu quả “không xảy ra chuyện xấu xa cho người tốt trong lúc sống cũng như sau khi chết”[22] – điều này quả thực đã được nhắc lại trong tác phẩm Cộng hòa.[23] Cả Plato lẫn Aristotle đều nói về cuộc sống trầm tư như cuộc sống cao nhất mà con người có thể sống.
Tầm nhìn của hai ông hướng đến mục tiêu tối hậu mà mọi vật đều tìm kiếm, lời giải đáp cho câu hỏi tại sao mà mọi vật lại đang là như chúng đang là và tìm kiếm để được là cái mà chúng muốn được là: ấy là thỏa mãn sự tìm kiếm chân lý, cả trên lý thuyết lẫn trong thực tiễn. Quay trở về hang động và thế giới của ảo ảnh, nơi con người theo đuổi những mục đích trá ngụy, nào tranh giành nhau, nào cãi cọ nhau ầm ĩ, nào lo lắng cáu giận, nào sống ngu ngốc và hư hỏng – cuộc quay trở lại này phải được nhìn nhận chỉ như một sự bất đắc dĩ cùng cực.
Nhưng mà vẫn còn phải quay trở lại. Tại sao vậy? Vì cần phải sáng tạo ra một xã hội mà trong đó một người minh triết – Socrates – sẽ không bị bắt phải chết hay sao? Hay chỉ vì Nhà nước có thể giáo dục khiến cho con người có khả năng đức hạnh và minh triết, và có thể thấu hiểu được hiện thực mà chỉ có sự thấu hiểu ấy mới đem lại được sự an toàn đạo đức và trí tuệ cùng sự thỏa mãn hay sao? Đó là những lời giải đáp khác nhau mà lời giải đáp này không hòa hợp được với lời giải đáp kia: nhưng những lời giải đáp ấy có điểm chung là quan điểm cho rằng con người không thể và không nên sống bên ngoài Nhà nước.
Quả thực là Socrates về toàn cục đã tránh được mọi điều: ông đã tuân thủ luật pháp và hoàn tất nghĩa vụ quân sự một cách xuất sắc, nhưng ông đã tránh xa chính trị, nếu chúng ta tin vào những người đã viết về ông, vì rằng nền dân chủ Athens đã quá tham nhũng và không một ai trong những người biết được chân lý nằm ở đâu, lại chịu đi xin những giải thưởng hào nhoáng rẻ tiền mà một xã hội xấu xa đồi bại mời chào.
Mặc dù vậy, một trong những lời buộc tội chống lại ông là ông đã quá gần gũi với Critias, thủ lĩnh của những tên bạo chúa đã tiếm quyền và thiết lập một vương triều khủng bố, cũng như đã tàn sát khá nhiều các nhà dân chủ. Socrates đã không bị buộc tội vì đã quay lưng lại với cuộc sống công dân, mà vì “đã làm đồi bại các thanh niên”[24] và vì đã gieo rắc sự hoài nghi về các giá trị gìn giữ kết cấu xã hội, và, chắc chắn, vì đã là bạn của Alcibiades, một kẻ phản bội, và là bạn của những thanh niên giòng dõi, những kẻ đã khinh miệt những người bán hàng khô và thợ thuộc da là những người tạo nên số đông các cử tri Athens, nói cách khác, vì ông đã thuyết giảng các học thuyết thường được tạo ra bởi giới tinh hoa, có thể là giới tinh hoa duy lý, nhưng vẫn là những người tài giỏi vượt trên toàn thể công dân bình thường, những đầu sỏ chính trị tin vào các giá trị cao hơn của bản thân họ và không tin vào sự bình đẳng hay đa số phiếu bầu.
Đây chưa phải là sự tách rời khỏi chính trị, nhưng là sự lật đổ tích cực một kiểu cách đặc biệt của đời sống chính trị. Trong Crito, nơi cảnh sát nói với Socrates trước khi ông chết, chúng bảo ông rằng ông là một đứa trẻ và là kẻ nô lệ của luật pháp. Ông là một trong số người đã vi phạm luật pháp. Một khi luật pháp đã được đặt ra thì nghĩa vụ của công dân là phải tuân theo – không có vấn đề chọn lựa ra khỏi cam kết như thế. Người công dân chịu ơn luật pháp nhiều hơn là cha mẹ đẻ của mình.[25] Socrates cho điều này là dĩ nhiên; ông không tranh cãi điều đó: đạo đức hợp nhất anh với xã hội, và trên hết anh không được phá hủy luật pháp bằng cách không tuân theo do luật pháp bất công, do anh phải đau khổ một cách bất công dưới luật pháp ấy.
Quyền của kết cấu xã hội là tối thượng. Giả định cho rằng Plato chỉ quan tâm đến hay quan tâm chủ yếu đến việc tạo điều kiện, sao cho thiểu số đủ tài năng khám phá chân lý có thể có điều kiện để theo đuổi sự nghiên cứu của mình, giả định này thực tế không thể đứng vững. Dù tác phẩm Cộng hòa có được diễn giải thế nào đi nữa thì Chính khách vẫn là một chuyên luận không phải về các phương tiện mà về mục đích – theo ông thì chỉ có cuộc sống xứng đáng với con người mang danh cuộc sống của thành bang, là cuộc sống mà những người có trách nhiệm nên sống.
Đối với Plato đức hạnh là kết quả của nền giáo dục được Nhà nước định hướng. Một nhà nước xấu xa phải bị cải tổ hay giải thể, nhưng không phải để mất đi sự kết hợp của các cá nhân. Không có điều gì mà Plato phản đối gay gắt hơn là “một xã hội trong đó mọi người được phép làm bất cứ điều gì họ thích”.[26] Sự khẳng định dữ dội nhất về điều này là trích đoạn nổi tiếng trong tác phẩm Luật pháp, nơi sau khi phê phán Sparta như một Nhà nước quân phiệt – một “trại lính” đơn thuần[27], ông tuyên bố trong nhiều trang sau đó:
Chuyện có tính nguyên tắc là không một ai, đàn ông hay đàn bà, có bao giờ được ở một mình không có nhân viên trông coi, là không một ai được có thói quen tinh thần quyết định bất cứ hành động gì dựa trên trách nhiệm cá nhân, dù nghiêm chỉnh hay đùa vui. Trong hòa bình và trong chiến tranh anh ta luôn phải nhìn vào cấp trên của mình mà sống, theo sự lãnh đạo và dẫn dắt của ông ta trong mỗi hành động nhỏ nhặt nhất…Nói tóm lại, anh ta phải rèn luyện đầu óc sao cho thậm chí không nghĩ tới hành động như một cá nhân hay biết được làm chuyện đó thế nào.[28]
Chắc chắn điều này được ông viết ra vào lúc tuổi già cay đắng, sau thất bại của thí nghiệm ở Sicile, khi mà niềm tin nồng nàn của ông vào lý trí con người có thể đã bị suy yếu đi bởi nghiệm chứng của ông về thói xấu và sự điên rồ của con người. Trong một cách giải thích ôn hòa hơn, đó là sự quan tâm của Plato mỗi khi xuất hiện vấn đề về tổ chức chính trị.
Sự quy giảm đời sống xã hội thành một khuôn mẫu chặt chẽ duy nhất lấy cảm hứng từ logic học hay toán học có thể gây tranh cãi về lòng căm ghét tiềm tàng đối với kết cấu xã hội như bản thân nó hay về những vấn đề hòa giải sự đa dạng của con người và những muc tiêu, hay pha chế chúng thành một hình thức nào đó có thể phát triển được cho đời sống xứng đáng với con người, trong đó nghệ thuật hay khoa học chính trị có thể hiện diện ở đó. Có thể cho là như vậy, Plato rõ ràng suy nghĩ về con người trong ngữ cảnh xã hội.
Trong quan niệm của ông con người là ở giữa những con người. Ý nghĩa đạo đức theo ông là ý nghĩa đạo đức xã hội, dù thậm chí không phải ở mức độ như Aristotle – với Aristotle thì đạo đức có thể dẫn xuất ra được từ chính trị. Chúng ta khám phá điều gì con người nên làm bằng cách hỏi tự nhiên đã dự tính những chức năng nào cho họ để họ thực hiện trong khuôn mẫu mà họ được tạo ra vì nó. Thành bang Hy Lạp bắt nguồn từ khuôn mẫu ấy.
Ở nơi nào mà sự kết hợp quá lớn, như Ba Tư chẳng hạn, hay quá thô thiển, như nơi những người man khai, hoặc chẳng có sự kết hợp nào hết – khi sự tan rã xảy ra và người ta thấy mình chỉ còn tự trông cậy vào mình – thì sẽ gây ra sự suy thoái, tình trạng bất thường. Chuẩn mực là sự cân bằng của các sức mạnh và các đặc trưng chứa đựng trong thành bang. Sự xấu xa tệ hại nhất và có tính bào mòn nhiều nhất – sự bất công – là gây rối loạn trạng thái cân bằng ấy. Những thể chế tốt đẹp nhất là thể chế giữ cho sự vật ở trạng thái cân bằng, bảo tồn khuôn mẫu và tạo nên khuôn khổ trong đó con người có thể thể hiện mình về mặt xã hội – nên vì vậy mà cũng thể hiện mình về mặt đạo đức và trí tuệ.
Các tính cách con người được xác định theo kiểu xã hội mà tự nhiên đã tạo ra con người vì mục đích ấy. Có con người dân chủ, con người đầu sỏ chính trị, con người tài phiệt: là những viên gạch được xác định theo kiểu tòa nhà mà con người thích hợp với nó một cách tự nhiên. Đó là lý tưởng Hy Lạp về cuộc sống vẫn được ca tụng trong cách diễn tả rõ ràng nhất.
(Còn nữa)
- Isaial Berlin
- Nguyễn văn Trọng dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Chú thích:
[17] Herodotus (khoảng 484 đến khoảng 430-420 tCN) sử gia Hy Lạp viết về các cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Ba Tư.(ND)
[18] Thucydides (khoảng 460 đến khoảng 404 tCN) sử gia Hy Lạp viết về cuộc chiến tranh giữa Athens và Sparta. (ND)
[19] Tiếng Hy Lạp chỉ thành bang, một hình thức tổ chức kinh tế xã hội và chính trị thời cổ Hy Lạp. Polis bao gồm các công dân bình quyền; bộ phận cư dân không phải công dân không thuộc polis. (ND)
[20] Politics 1337a27; so sánh với Nicomachean Ethics 1180a24-9 và Metaphyics 1075a19 (TG)
[21] Politics 1253a-3 (TG)
[22] Apology 41d1 (TG). Tương tự như câu “ở hiền gặp lành” ở ta.(ND)
[23] 613a (TG)
[24] Apology 24b-c (TG)
[25] 50c-51c, đặc biệt là 51a (TG)
[26] Republic 557b5 (TG)
[27] 666e (TG)
[28] 99 2a-c (TG)











