Chủ Nhật, 01/07/2012, 15:14 [GMT+7]
.
.

Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp (VII)

(Lửa thiêng)- Thấu hiểu thực sự thế giới là hiểu được rằng mọi thứ trong thế giới đều là tất yếu cả, và cái mà anh gọi là điều ác là một yếu tố không thể thiếu được trong một sự hài hòa rộng lớn hơn.

Ngọn đuốc tự do Hy Lạp
Ngọn đuốc tự do Hy Lạp

Tất nhiên những người theo chủ nghĩa khắc kỷ có nhiều ảnh hưởng hơn là những người theo Epicurus. Zeno, người đã tự khẳng định mình ở Athens vào cuối thế kỷ IV, vốn là người ngoại quốc, một người Phoenic đến từ Cyprus, giảng dạy sự minh triết bao gồm tự do nội tâm, chỉ có thể đạt được bằng cách diệt trừ xúc cảm sinh ra từ thể tạng của con người.

Thế giới là một khuôn mẫu và trật tự duy lý, và bởi vì con người về bản chất là một vật tạo duy lý nên việc thấu hiểu trật tự ấy tức là thừa nhận vẻ đẹp và tính tất yếu của nó – những định luật được khắc họa bằng những chữ viết bất tử vào lý trí bất tử của chúng ta.[72] Chỉ khi nào anh giải thoát bản thân mình khỏi những ảnh hưởng tàn phá anh – những lầm lạc về thế giới do ngu xuẩn và vô minh gây ra, hoặc do điều kiện xấu xa và đồi bại gây ra – khi đó anh mới trở thành người không thể bị tổn thương đối với những thứ xấu xa và bất hạnh do những người khác tạo ra.

Thấu hiểu thực sự thế giới là hiểu được rằng mọi thứ trong thế giới đều là tất yếu cả, và cái mà anh gọi là điều ác là một yếu tố không thể thiếu được trong một sự hài hòa rộng lớn hơn. Đạt được sự thấu hiểu ấy là thôi không còn cảm thấy những ham muốn thông thường, những nỗi sợ hãi, những hy vọng của loài người, và hiến dâng bản thân mình cho một cuộc sống hòa hợp với lý trí hay với tự nhiên – đối với Zeno đó là cùng một thứ, vì tự nhiên là hiện thân các định luật của lý trí (logos) hoàn vũ. Nhà thông thái khắc kỷ nhận xét rằng lý trí điều hành thế giới.

Nếu nỗi đau là bộ phận của bản thiết kế thì nó phải được đón nhận; ý chí của anh phải hiệu chỉnh theo nó. Khi Posidonius,[73] người theo chủ nghĩa khắc kỷ, bị trọng bệnh hành hạ, ông đã thốt lên:”Xin người cứ làm cho đau đớn tệ hại, dù người có làm gì đi nữa, người cũng không khiến tôi căm thù người đâu.”[74]

Nữ thần
Nữ thần mùa xuân (Bảo tàng Uffizi)

o bất cứ người nào cũng có thể thấu hiểu tính tất yếu duy lý của bất cứ điều gì xảy ra, nên không cần phải cố giành lấy sự hài hòa, ổn định, bình an của tâm hồn để nhằm có được một mức tối thiểu của sức khỏe và tiền bạc vật chất mà Aristotle thừa nhận là cần thiết cho hạnh phúc. Vua Priam, dù có can đảm và lương hảo tới đâu, cũng không thể đạt được hạnh phúc, theo như Aristotle nhận định, vì những bất hạnh của Priam là quá lớn; còn theo nhận định của những người khắc kỷ thì Priam có thể đạt được hạnh phúc.

Chỉ có một thứ là hiện thực, ấy là lý trí cơ bản thấu qua suốt bản chất con người. Tại sao phải thu thập chi tiết của 257 thể chế để tìm ra cái gì thì thích hợp với loại người nào, ở nơi nào, trong khí hậu nào, với những truyền thống gì – trong khi mọi con người về cơ bản đều như nhau cả, và chúng ta có thể khám phá một cách tiên nghiệm bằng việc rèn luyện lý trí bên trong chúng ta để thấu hiểu những định luật vĩnh cửu của thế giới, phải chăng điều chúng ta nên làm là hòa hợp chính mình cùng thế giới, hơn là biết được điều đó qua con đường quy nạp không chắc chắn như các Peripatetics[75] đã chọn? Làm sao chúng ta biết được cái gì là chắc chắn? Bởi vì đôi khi một cái gì đó “gần như nắm lấy tóc chúng ta…bắt chúng ta phải chấp thuận”.[76 Một số chân lý là không thể sửa được và không cưỡng lại được.

Dễ dàng thỏa thuận trong hòa bình ở một số tình huống này hơn là ở một số tình huống khác: nếu vàng không được đào lên hay các đồ xa hoa không được các con tàu chở đến từ nước ngoài, thì hẳn đã có nhiều sự giản dị và an bình hơn, thế nhưng ngay cả tại Athens đầy sành sỏi và đồi bại vào đầu thế kỷ thứ ba, sự rèn luyện cảm xúc vẫn có thể có được, và người ta có thể tự rèn luyện mình thành trơ lỳ trước ý chí độc ác của con người hay những đòn đánh của số phận. Con tàu phải được sơn bảo vệ chống rò rỉ - nếu để cho những cảm xúc yếu ớt có thể thấm qua thì anh sẽ bị chìm.

Lý tưởng là apathia – vô cảm xúc. Nhà thông thái khắc kỷ không cảm xúc, khô khan, không thiên kiến, không thể bị tổn thương; chỉ có ông ta là nhà vua, là giáo sĩ, là ông thầy, là thần linh. Giống như những giáo đồ Pharisees[77] mà Josephus[78] so sánh những người khắc kỷ với họ, các nhà thông thái khắc kỷ bị kết tội là lạnh lùng, đạo đức giả, kiêu căng, khinh người, kiêu kỳ. Phong trào đã có những người tuẫn đạo của mình: do đau khổ chỉ là kết quả của sự lệch ra khỏi lý trí, của sự quyến luyến quá đáng với con người hay đồ vật, nếu các tình huống trở nên quá xấu hay bạo chúa quá tàn nhẫn và luôn đe dọa, thì anh luôn có thể thoát khỏi các hậu quả bằng cách tự kết liễu đời mình.

Những người khắc kỷ không biện hộ cho việc tự sát, nhưng họ cũng không thuyết giảng chống lại chuyện này. Một người duy lý lìa đời khi mà cuộc sống phù hợp với lý trí trở nên bất khả dĩ, bởi các chức năng của đời sống đã tiêu tan quá nhiều, hoặc là bởi cuộc sống có thể duy trì bằng một giá quá bất hợp lý. Con người như con chó bị buộc vào cỗ xe kéo; nếu anh ta khôn ngoan thì sẽ chạy theo cỗ xe. (Cái đó được gọi là tuân theo tự nhiên – chính là hợp lý và sáng suốt. Nếu anh ta không sáng suốt thì cỗ xe sẽ lôi anh ta và anh ta phải chạy theo xe dù muốn dù không.)

Các học thuyết chính trị của chủ nghĩa khắc kỷ thời sơ khởi là gì? Chỉ có người sáng suốt mới có thể sống trong an bình và hòa hợp. Họ có thể sống ở bất cứ thành bang nào; không quan trọng là ở đâu, vì họ vô cảm xúc nên họ không cảm thấy quyến luyến đặc biệt với đám người nào. Nơi cư trú lý tưởng là nơi không có thánh đường thờ thần linh, không có tượng thờ thần linh, không có nơi xử án, không có nơi luyện võ, không có quân đội hay tàu chiến hay tiền bạc, vì người sáng suốt không cần đến những thứ đó; nếu anh sống trong ánh sáng của lý trí thì những xung đột, những nỗi sợ hãi và niềm hy vọng dẫn đến việc dựng nên các định chế ấy sẽ tan biến mất.

Zeno biện minh cho tự do tình dục hoàn toàn: mọi con cái đều là con cái của tất cả các cư dân. Trong cuộc sống đúng đắn của con người, theo Zeno, “Chúng ta không nên sống theo các thành bang hay các khu vực hành chính ngăn cách nhau thật tách biệt tùy theo ý tưởng của riêng chúng ta về điều gì là đúng đắn, mà phải xem mọi người đều là thành viên của khu vực và là công dân [thành bang]; phải xem chỉ có một cuộc sống và một thế giới, đúng như một bầy đàn cùng ăn chung, được nuôi dưỡng cùng nhau bởi một đồng cỏ chung.”[79] Đó là thế giới của những người tốt; chỉ có họ mới có thể thụ hưởng tình yêu, tình bạn, sự hòa hợp nội tại và ngoại tại.

Đó là những gì Zeno thuyết giảng; và Plutarch thốt lên đầy hứng khởi, [hoàng đế] Alexander xứ Macedon tiếp thu nó. Tarn than phiền rằng, giống như Aristotle chia người ta ra thành những người tự do và những kẻ nô lệ theo bản chất, thì Zeno cũng chia họ ra thành những người tốt và những kẻ xấu xa, những người được cứu rỗi và những kẻ có tội. Thế nhưng điều này không đúng. Bất kỳ ai cũng có thể được cứu rỗi, nhưng không phải người nào cũng có thể chuyển đổi bản chất của mình xác định theo Aristotle, từ bản chất của kẻ nô lệ sang bản chất của người tự do được.

Điều rõ ràng là trong khi Plato và Aristotle khao khát tổ chức, tạo dựng nên và duy trì một trật tự, chủ nghĩa cộng sản của Plato về nguyên tắc là một phương tiện để nhân giống những công dân thích hợp. Zeno muốn bãi bỏ chuyện này; cả Zeno lẫn các môn đệ Cleanthes[80] và Chrysippus của ông đều biện minh cho tự do xã hội theo kiểu cực đoan nhất: tình dục lang chạ bừa bãi, tình dục đồng tính, loạn luân, buông thả nhục dục, cho phép làm mọi thứ không ngăn cấm bởi thể chất (physis) – tự nhiên – bất chấp việc đi ngược lại với các quy phạm, các truyền thống và các tập quán, những thứ mà khi nghiên cứu kỹ sẽ thấy đều là nhân tạo và phi lý tính.

Khi anh nhìn vào bên trong bản thân mình và chỉ vào bên trong mình mà thôi – vì cũng chẳng có chỗ nào khác nữa để nhìn vào (chắc là anh chẳng nên nhìn vào các định chế xã hội, những thứ đơn thuần chỉ là cái trợ giúp ngoại tại ngẫu nhiên để sống) – khi đó anh sẽ thấy được một số quy phạm khắc ghi nơi trái tim anh bởi chính tự nhiên, trong khi những thứ khác đơn thuần chỉ là những thứ nhân tạo, phù du và hướng tới những mục đích phi lý, chẳng có gì là dành cho con người sáng suốt cả.

(Còn nữa)

  • Isaial Berlin 
  • Nguyễn văn Trọng dịch từ nguyên bản tiếng Anh

Chú thích:

[72] Stoicorum veterum fragmenta (từ nay ký hiệu là SVF) iii 360. (TG)

[73] Posidonius (135-51 tCN) triết gia Hy Lạp được xem là uyên bác nhất trong thời đại của ông. (ND)

[74] Loc. Cit. (p. 31 dẫn ở trên, ghi chú 1) = Edelstein – Kiđ T38. (TG)

[75] Peripatetics: biêt hiệu đặt cho các học trò của Aristotle. Trường học của Aristotle đặt trong lùm cây. Ông có thói quen đi bộ vòng quanh lùm cây khi giảng bài. Tiếng Hy Lạp perivòng quanh, pateinđi bộ. Các tác phẩm của Aristotle phần nhiều do các học trò ghi lại. (ND)

[76] Sextus Empiricus, Adversus mathematicos 7 (Adversus logicos 1). 257. (TG)

[77] Thành viên một giáo phái Do thái thịnh hành ở Palestine trong khoảng từ 515 tCN đến 70. (ND)

[78] Flavius Josephus (sinh khoảng 37, 38 tCN, chết 100) giáo sĩ, học giả, và sử gia Do thái viết nhiều tác phẩm giá trị về cuộc nổi dậy của dân Do thái những năm 66-70. (ND)

[79] SVF I 262. Từ “đồng cỏ”(pasture) trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là “luật pháp”. (TG)

[80] Cleanthes (sinh 331/330 mất 232/231 tCN) triết gia đứng đầu trường phái khắc kỷ thời kỳ (263-232) sau khi Zeno chết. (ND)

 

;
.
.
.