Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp (VIII)
(Lửa thiêng)- Đối với những người khắc kỷ thì ông vua không phải là một nhân vật thần thánh như những người theo Pythagoras hay thậm chí cả Aristotle quan niệm như thế; ông vua là người bình thường, và vì rằng điều đáng mong muốn là khiến cho cuộc sống được hợp lý càng nhiều càng tốt.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
![]() |
| Ngọn đuốc tự do Hy Lạ |
Chủ nghĩa khắc kỷ hậu kỳ hấp thu vào nó nhiều học thuyết Aristotle hơn, tự làm cho mình thích nghi với sự sử dụng của đế chế La Mã, từ bỏ giọng điệu và nội dung sắc bén chống chính trị của mình – bởi lẽ về nguyên tắc chủ nghĩa khắc kỷ cũng chống chính trị như học thuyết Epicurus. Quả thực Zeno đã gây ấn tượng cho người cai trị Athens gốc Macedon là Antigonus Gonatas, như một vị thầy về đức hạnh công dân. Bản thân Zeno chắc không phục vụ ông ta, nhưng ông cung cấp các đệ tử của mình trở thành các cha tuyên úy cung đình và các cố vấn riêng cho các vị vua thời Hy Lạp cổ đại, đôi khi còn trở thành các vị tướng lĩnh và các nhà cải cách xã hội thực tiễn (như ở Sparta).
Mặc dù vậy, đối với những người khắc kỷ thì ông vua không phải là một nhân vật thần thánh như những người theo Pythagoras hay thậm chí cả Aristotle quan niệm như thế; ông vua là người bình thường, và vì rằng điều đáng mong muốn là khiến cho cuộc sống được hợp lý càng nhiều càng tốt, nhà thông thái khắc kỷ có thể tư vấn cho nhà vua và gây ảnh hưởng lên ông ta theo hướng đúng đắn, chuyện này tuy không phải là nghĩa vụ cốt yếu nhất – nghĩa vụ cốt yếu nhất là đặt mình trong khuôn khổ đúng đắn của tâm hồn và không có gì khác hơn – nhưng tạo điều kiện cho con người dễ dàng cứu rỗi bản thân bằng phép nội quan khắc kỷ, tự xem xét mình về các nhiệm vụ mà lý trí đặt ra.
![]() |
| Apollo say tình |
Đôi khi người ta nói rằng Zeno tin vào một Nhà nước toàn cầu, nhưng đó là sự diễn giải sai văn bản nơi Plutarch:[81] Zeno chẳng có chút quan tâm nào đến Nhà nước cả. Trái ngược hẳn với Plato và Aristotle, ông ta tin rằng sự minh triết phải được học hỏi và thực hành không phải trong polis lý tưởng, mà trong thế giới đầy những con người sáng suốt. Xã hội về cơ bản là vật cản trở cho sự tự đầy đủ. Hiển nhiên là người ta không thể tránh khỏi xã hội hoàn toàn và cần phải tạo ra xã hội tốt nhất, nhưng ngược hẳn với đạo đức diễn dịch ra từ chính trị, riêng tư diễn dịch ra từ công cộng, con đường đúng đắn là con đường khác: điều chỉnh các sự vụ công cộng cho phù hợp với các quy phạm của đạo đức cá nhân.
Con người đức hạnh và sáng suốt phải học hỏi để không quan tâm đến những bão tố của cuộc sống công cộng, thoát đi vào bên trong bản thân mình, bỏ qua những thứ công cộng là thứ rốt cuộc chẳng mấy quan trọng. Khoảng cách giữa cái ataraxia của Epicurus – sự thản nhiên – và cái apathia khắc kỷ - vô cảm xúc – là không lớn. Niềm vui hay nghĩa vụ, hạnh phúc hay tự thể hiện mình hợp lý, ấy là những lý tưởng đối lập với các lý tưởng của thế giới Hy Lạp cổ đại. Dù chúng có khác biệt nhau đến đâu, chúng đều là thứ chống lại thế giới công cộng của Plato và Aristotle và những nhà ngụy biện chủ chốt. Sự gián đoạn là rất xa và các hệ lụy là rất lớn.
Lần đầu tiên ý tưởng đạt kết quả là ý tưởng cho rằng chính trị là công việc bẩn thỉu, không đáng xem là sáng suốt và thiện hảo. Sự phân cách giữa đạo đức và chính trị được tạo thành tuyệt đối; con người được xác định dưới dạng cá nhân, còn chính trị may lắm cũng chỉ trở thành sự ứng dụng của những nguyên lý đạo đức nhất định cho một nhóm người thay vì ngược lại. Không phải trật tự công cộng mà sự cứu rỗi cá nhân mới là quan trọng.
Hy sinh sự cứu rỗi vì những nhu cầu công cộng là sai lầm tai hại lớn nhất mà con người có thể phạm phải; là sự phản bội lại tất cả những gì làm cho anh ta thành con người, phản bội lại lý trí bên trong anh ta - thứ duy nhất mang đến cho con người phẩm cách và giá trị. Không cần phải nói tới ảnh hưởng của ý niệm này trong đạo Kitô, đặc biệt là trong các truyền thống Augustine và truyền thống tĩnh tịch (quietist) Kitô giáo.
Chuyện này thật kỳ lạ. Làm sao lại có một sự gián đoạn gay gắt đến thế trong vòng hai thập kỷ? Vào một thời điểm tất cả các nhà tư tưởng chủ chốt có vẻ như đều thảo luận các vấn đề xã hội và chính trị; không đầy hai chục năm sau chẳng có người nào còn làm thế nữa. Những người theo Aristotle bận sưu tập các cây cỏ thực vật, tích góp thông tin về các hành tinh, các động vật, các thông tin địa lý; những người theo Plato bận nghiên cứu toán học, không một ai nói về các chuyện xã hội và chính trị nữa – nó đột nhiên trở thành một chủ đề không đáng để những người đứng đắn có ý kiến.
Lời giải thích chính thức được hầu hết các nhà sử học chấp thuận, tất nhiên rồi, là sự phá hủy các thành bang bởi [các vua] Philip và Alexander xứ Macedon. Quan điểm theo thông lệ, được hầu hết các nhà sử học chấp thuận về chủ đề này (có vài ngoại lệ đáng tôn vinh), cho rằng các trước tác của những nhà tư tưởng chủ chốt phản ánh các điều kiện chính trị một cách trực tiếp và dứt khoát. Sophocles, Pericles của [sử gia] Thucydides, Aeschylus, Herodotus là những người phát ngôn cho Athens trong tuyệt đỉnh sức mạnh và thành tựu sáng tạo của nó. Plato, Isocrates, bản thân Thucydides phản ánh áp lực và sự căng thẳng thời kỳ sơ khởi của sự suy đồi.
Demosthenes là sự cầm cự tuyệt vọng cuối cùng của nền dân chủ độc lập. Sau đó là đến trận chiến ở Chaeronea năm 338 tr. CN.[82] Polis bị phá hủy bởi các đội hình chiến đấu của Macedon. Aristotle – giống như con cú của nữ thần Minerva[83]- nói về quá khứ chứ không phải về tương lai, và tự tụt hậu về thời gian mà ông trốn chạy khỏi Athens năm 323. Polis trở nên không quan trọng nữa. Một thế giới rộng lớn được mở ra bởi các đạo quân của Alexander, và người Hy Lạp hay người Athens trung bình (tùy theo tác giả chọn lựa) bị tước đoạt mất ý thức thân mật và an toàn vốn được đảm bảo bởi các tường thành của thành bang nhỏ bé tự cung tự cấp, cảm thấy mình nhỏ bé không đáng kể trong đế chế mới đầy rộng lớn trải dài đến tận phương Đông. Không có tổ chức tự nhiên để anh ta trung thành và tụm lại cho an toàn.
Bầu không khí mới hoang vắng đã không còn các cảnh trí quen thuộc nữa, khiến cho anh ta cảm thấy sợ hãi và đơn độc, nên chỉ quan tâm tới sự cứu rỗi bản thân cá nhân mình thôi. Cuộc sống công cộng tiêu tan. Các mối quan tâm công cộng trở nên có vẻ không thích hợp. Menander,[84] một công dân cùng thời với Epicurus, viết các vở hài kịch về những chuyện cá nhân trong nhà. Chủ nghĩa tự nhiên từng thành công với hội họa và điêu khắc lý tưởng hóa, thể hiện lý tưởng chung của toàn thể polis – các đối tượng cao quý cho sự sùng bái xã hội, cho sự ngưỡng mộ, cho sự tranh đua. Mê tín dị đoan từ nay lấp đầy khoảng trống do sự biến mất tôn giáo Nhà nước để lại.
Người ta rút lui vào bản thân mình. Cơ cấu xã hội tan vỡ. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước kẻ chuyên chế xa xôi từ Pella, hay Alexandria, hay Antioch. Tính cộng đồng hữu cơ bị nghiền nát thành các nguyên tử tách rời nhau. Học thuyết khắc kỷ và học thuyết Epicurus là các hình thức tự nhiên của niềm tin cho con người ở trong điều kiện ấy.
Điều khó tin được của sự tường thuật này là sự thay đổi thảm hại – chẳng có gì quá lời – xảy ra quá nhanh. Athens vẫn nhỏ bé chẳng đáng kể trước trận chiến Chaeronea và cũng không ngừng tồn tại như một thành bang vào năm 337 tCN. Nó bị đánh bại, nhưng nó cũng đã từng bị Sparta đánh bại trước đó, và nó đã vẫn giữ cuộc sống đủ mãnh liệt như một thành bang vào thế kỷ thứ tư như những diễn từ của các nhà hùng biện truyền lại, nếu không có gì khác nữa. Đã có một đạo quân Macedon đồn trú ở Acropolis;[85] đạo quân ấy đã phải rời đi.
Thực ra nó có trở lại để khuất phục thành bang nổi loạn. Nhưng cảm xúc công dân vẫn còn tiếp tục; người ta tiếp tục đi bầu cử, bầu chọn cơ quan công cộng, giữ các nghi thức tế lễ. Các polis đã không bị Alexander hay các ông vua kế vị giải thể: ngược lại, các polis mới còn được tạo ra thêm. Các văn bia không cho thấy sự uể oải của tinh thần công cộng. Không có sự suy sụp thực sự nào cho đến khi những người La Mã xuất hiện trên vũ trường. Chắc chắn các thành bang quả có mất đi tính cách độc lập của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực chính sách đối ngoại.
Tất nhiên hẳn sẽ là ngớ ngẩn nếu phủ nhận việc Alexander đã biến cải thế giới Địa trung hải. Nhưng dù cho bạn có tin chắc đến đâu rằng cấu trúc thượng tầng ý thức hệ đi theo một cách trung thành với các biến đổi trong cấu trúc hạ tầng về xã hội và kinh tế - trong trường hợp này là tổ chức chính trị - thì chắc chắn cũng không có một sự gián đoạn gắt gao đến thế trong lịch sử của polis, phán đoán từ những trải nghiệm chủ quan của các công dân để giải thích một sự biến cải đột ngột, nhanh chóng và toàn diện đến thế trong quan điểm chính trị.
- Isaial Berlin
- Nguyễn văn Trọng dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Chú thích:
[81] Plutarch (46-119) nhà viết tiểu sử Hy Lạp nổi tiếng. (ND)
[82] Trận chiến vua Philip II của Macedon đánh bại Thebes và Athens. (ND)
[83] Được nhắc đến trong đoạn cuối của Lời nói đầu mà Hegel viết cho Grundlinien der Philosophie des Rechts: xem Georg Wilhelm Friedric Hegel, Samtliche Werke, ed. Hermann Glockner (Stuttgart, 1927-51), vol. 7, p. 37. (TG)
[84] Menander (342-292 tCN) nhà viết kịch Athens được giới phê bình cổ đại tôn là nhà viết “hài kịch mới” lớn nhất của Hy Lạp. (ND)
[85] Bộ phận thành phố được xây ở trên cao cùng với các công trình phòng thủ. (ND)










