Thứ Bảy, 14/07/2012, 06:52 [GMT+7]
.
.

Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hy Lạp (XI)

(Lửa thiêng)- Nếu anh ta tập luyện cho cái lương tâm ấy coi thường và loại bỏ những gì nó không thể kiểm soát, anh ta sẽ có được sự độc lập với thế giới ngoại tại.

Ngọn đuốc Tự do Hy Lạp
Ngọn đuốc Tự do Hy Lạp

Những lý thuyết này khá lý thú như chỉ dấu cho thấy có điều gì đó không thể giải thích nổi trong tình huống này, hơn là vì những lý thuyết ấy khả tín nội tại. Epicurus, người có học thuyết nhằm những mục tiêu ấy đến gần với học thuyết khắc kỷ, là người mang giòng máu Athens thuần chủng, ngay cả dẫu ông ta lớn lên ở Samos.[109] Diogenes đã đến từ Sinope,[110] nhưng Crates lại tới từ Elis,[111] và chẳng một ai nghi ngờ Antiphon có gốc ngoại quốc.

Chẳng có gì trong các học thuyết của Zeno mang tính phi-Hy Lạp một cách cố hữu: niềm tin và lẽ phải phổ quát, vào tự nhiên, vào sự bình an và sự hòa hợp nội tâm, tự chủ bản thân và độc lập tính, tự do và một sự điềm tĩnh vô tư không phải là các giá trị Do Thái. 

Ông ta không nói về nghĩa vụ dưới dạng các quy tắc tuyệt đối, mà nó bật ra từ ý niệm về lẽ phải như cái quy định các mục đích, giống như trong Plato – như một phạm trù nghiêm ngặt cho phép vô hạn độ. Ở đây không có tiếng nói sấm sét nạt nộ con người, không có sự hiện diện vừa cao cả, vừa huyền bí vừa siêu phàm gây hãi hùng mà việc dò hỏi bản chất của nó là bất kính Thượng đế: ngược lại, mọi thứ ở đây gần như quá đỗi hợp lý, quá đỗi hệ thống, quá rành mạch ngắn gọn, quá thực chứng.

Không có yếu tố huyền bí nào cả ở Zeno lẫn Epicurus. Bài tụng ca mang tính tôn giáo sâu đậm của Cleanthes không phải là lời phát biểu của một nhà huyền học mà của một người duy lý, một  người tin vào lý trí hoàn vũ. Nếu quả thực những người này có nguồn gốc, tập quán và vẻ ngoài ngoại quốc thì họ đã đồng hóa quá nhiều với mô thức Hy Lạp, giống như nhiều thuộc địa của Đế chế La Mã, hoặc là giống những thổ dân của Cận Đông hay Ấn Độ sống ở Pháp hay Anh trong thế kỷ XIX. Các phong trào này thấm đẫm chất Hy Lạp. Thực ra Dodds than phiền rằng họ quá ư duy lý khiến cho những xung lực phi lý tính ép buộc Hy Lạp quay về với mê tín dị đoan.

Tuy nhiên, cuộc cách mạng là rất lớn, và nếu như nó không phải xảy ra đột ngột – vì tên tuổi của các nhà tư tưởng đi trước cuộc cách mạng ấy hay đối lập với các triết thuyết của Plato và Aristotle, đơn giản là đã bị đàn áp hay lãng quên – thì đây chỉ là một sự phỏng đoán và dựa trên những xem xét khả tín nói chung chứ không phải dựa trên những bằng chứng nghiêm khắc mà chúng tôi có.

Những trò vui thời Hy Lạp cổ đại
Những trò vui thời Hy Lạp cổ đại

Cuộc cách mạng đã đi tới đâu? Tôi xin thử tổng kết nó.

(a)   Chính trị học và đạo đức học ly hôn nhau. Đơn vị tự nhiên giờ đây không còn là nhóm người nữa, dưới dạng nhóm người ấy con người được xác định thậm chí nếu không phải là bộ phận của một cơ thể, thì cũng là thành viên của nó. Đơn vị tự nhiên bây giờ là cá nhân. Những nhu cầu của nó, các mục tiêu của nó, các giải pháp của nó, số phận của nó mới là vấn đề. Các định chế xã hội có thể là những phương cách tự nhiên để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân; dù có như vậy thì những định chế ấy không phải là mục đích tự thân, mà chỉ là phương tiện.

Chính trị, bộ môn xử lý với bản chất và mục đích của các định chế ấy, không phải là sự tra vấn triết học về mục đích và bản chất của hiện thực, mà là một bộ môn mang tính kỹ năng nói cho con người biết bằng cách nào có thể thu nhận được cái họ cần, hay cái họ xứng đáng có, hay cái họ nên có hay nên làm hay nên là – những câu hỏi được giải đáp bằng sự tra vấn đạo đức hay tâm lý, chứ không phải các luận văn về Nhà nước hay về vương triều. Sau này sẽ có nhiều thứ như vậy, nhưng chúng là những sách chỉ dẫn cho các nhà cai trị Hy Lạp cổ đại, hay là các vật dâng tặng tỏ lòng trung thành và biện minh cho hành vi của các nhà cai trị ấy do các triết gia cung đình đã được thuần phục viết ra.

(b)  Chỉ có cuộc sống nội tâm mới là cuộc sống đích thực; những thứ ngoại tại là mong manh phù du. Một người chưa phải là người trừ phi các hành động của anh ta được quyết định bởi chính anh ta chứ không phải do anh ta bị ép buộc bởi một kẻ áp chế theo tình huống hay không, những thứ mà anh ta không thể kiểm soát. Cái phần duy nhất bên trong anh ta mà anh ta có thể kiểm soát, ấy là lương tâm của anh ta.

Nếu anh ta tập luyện cho cái lương tâm ấy coi thường và loại bỏ những gì nó không thể kiểm soát, anh ta sẽ có được sự độc lập với thế giới ngoại tại. Chỉ có [con người] độc lập mới có tự do, chỉ có người tự do mới có thể thỏa mãn các khát vọng của mình, tức là đạt đến sự bình an và hạnh phúc. Sự độc lập như thế chỉ có thể đạt được bằng cách hiểu được bản chất của hiện thực. Thế nhưng trong khi đối với Plato và Aristotle cái hiện thực ấy bao gồm cuộc sống công cộng – Nhà nước – như một bộ phận nội tại của nó, còn đối với các triết gia cổ Hy Lạp hậu bối thì nó không bao gồm; kể từ đây triết học chính trị bị suy tàn cho đến khi có những nhu cầu thời La Mã và sự thực hành thời La Mã gây ra sự hồi sinh đặc biệt trong nó.

 

  • Isaial Berlin 
  • Nguyễn văn Trọng dịch từ nguyên bản tiếng Anh

Chú thích:

[109] Samos là hòn đảo Hy Lạp. (ND)

[110] Sinope la hải cảng ra Biển đen ở phía bắc Thổ nhĩ kỳ. (ND)

[111] Elis là miền đất cổ Hy Lạp. (ND)

 

;
.
.
.