Những người bắc cầu qua ’vực thẳm’ (I)
(Nghệ thuật mới) - Từ thưở bé thơ tới giờ, tôi luôn bị ám ảnh bởi chiến tranh. Đầu những năm 1980, ở xóm nhỏ của tôi tại thị xã Bạc Liêu xa lắc xa lơ, đều đặn có những con người đã mất chân hoặc mất tay đi ngang qua nhà tôi. Bóng họ phủ dài lên hiên nhà tôi một nỗi đau sâu thẳm. Họ là cựu binh trong cuộc chiến tranh đã xảy ra nhiều năm về trước, khi tôi chưa sinh. Ngày đó, tôi đã từng nghĩ có lẽ những người lính Mỹ và những người lính Việt Nam sẽ chẳng bao giờ có thể đến với nhau được nữa.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Vì vậy, ba mươi năm sau, vào đầu năm 2010, khi nhà văn Bảo Ninh và nhà thơ Trần Anh Thái rủ tôi cùng họ đến thăm những nhà văn, cựu binh Mỹ - những người vừa đặt chân đến Hà Nội để tham gia cuộc hội thảo văn học Việt Mỹ, lòng tôi bồn chồn không yên.
Tôi không hiểu họ sẽ nói gì với nhau khi từng là kẻ thù không đội trời chung. Nếu không hét vào mặt nhau, chắc hẳn họ cũng cẩn trọng, đề phòng từng câu nói của nhau. Hóa ra, đó là một buổi tối đặc biệt hơn tôi đã nghĩ.
Khi chúng tôi vừa mở cửa bước vào, những cựu binh Mỹ như Kevin Bowen và Bruce Weigl đã đứng phắt dậy, rồi ôm chầm lấy các cựu binh Việt Nam như Nguyễn Quang Sáng, Bảo Ninh, Trần Anh Thái, Tô Nhuận Vỹ ...
Họ ân cần hỏi thăm sức khỏe của nhau, hỏi thăm về con cái và gia đình nhau, như những người thân từ lâu không gặp mặt. Họ đùa cợt láu lỉnh và thoải mái, chuốc rượu cho nhau bí tỉ, không có vẻ gì thận trọng, cảnh giác như tôi tưởng tượng.
Thậm chí, họ còn kề đầu vào nhau xem tóc ai bạc nhất, rồi tranh nhau kết tội những người có mái tóc đen như Trần Anh Thái và Bruce Weigl là đã… khai man tuổi để được thực hiện nghĩa vụ quân sự sớm.
![]() |
| Từ trái qua phải: Bảo Ninh, Kevin Bowen, Trần Anh Thái, Bruce Weigl và Tô Nhuận Vĩ (Ảnh: Nguyễn Phan Quế Mai) |
Ngồi giữa họ, tôi cảm thấy mình đang được chứng kiến một trang mới của lịch sử, nơi mà tình bạn của những người đã từng đối đầu ở hai bờ chiến tuyến đang xoa dịu nhau, an ủi cho nhau.
Kevin Bowen và Lê Lựu
Trong cuộc hội thảo văn học Việt Mỹ năm 2010 được tổ chức ở Hòa Bình, “cặp đôi” để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất chính là Lê Lựu - Kevin Bowen. Nhìn Kevin Bowen chậm rãi bước đi, dìu nhà văn Lê Lựu (lúc đó sức khỏe khá yếu) bên cạnh, ít ai biết rằng họ đã từng chiến đấu ở hai bờ chiến tuyến:
21 tuổi, Kevin Bowen nhập ngũ và chiến đấu trong Sư đoàn Kỵ binh bay, đóng ở Quảng Trị và Tây Ninh, từ 1968 đến 1969. Còn Lê Lựu đã nhập ngũ 10 năm trước đó, từng làm phóng viên Báo Quân khu Ba, rồi mặt trận 559, từng lăn xả trong nhiều trận đánh máu lửa dọc đường Trường Sơn.
Nhà văn Kevin Bowen chia sẻ với tôi rằng, ông gặp Lệ Lựu cùng đạo diễn Hồ Quang Minh tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1987. Trong liên tục hai tiếng đồng hồ, Lê Lựu đã thôi miên một nhóm những cựu binh Mỹ bao gồm Kevin Bowen, Ralph Timperi, Larry Rottman, và David Thomas bằng những câu chuyện của ông về chiến tranh.
Đó cũng là những câu chuyện về chiến tranh đầu tiên mà những cựu binh Mỹ được nghe từ một người lính Việt Cộng – những câu chuyện đầy sức mạnh qua cách kể hài hước và đầy tính nhân bản của Lê Lựu.
Người lính Việt Cộng ấy không chỉ nói mà còn làm: với sự nhiệt tình giúp đỡ của Lê Lựu, Kevin và những cựu binh Mỹ khác có thể thiết lập quan hệ với những trung tâm chăm sóc thương bệnh binh và những trung tâm dành cho người khuyết tật, để sau này họ có thể gửi sự viện trợ nhân đạo từ Mỹ.
“Một kỷ niệm tôi không bao giờ quên là khoảng bốn giờ sáng, chiếc xe đang chở chúng tôi ra sân bay, xuyên qua màn mưa mù mịt, xối xả, lạnh buốt đột ngột dừng lại ở một nơi đối với tôi thật hoang vu mông quạnh. Cửa xe bật mở và từ màn mưa lạnh toát xối xả ấy, Lê Lựu hiện ra, lên xe để tiễn chúng tôi về nước“, Kevin không khỏi bùi ngùi khi kể với tôi.
Thật kỳ lạ, tình bạn của Kevin Bowen và Lê Lựu lại “đơm chồi nảy lộc“ trong thời điểm mà chính phủ Mỹ đang ráo riết thực thi chính sách cấm vận vô cùng hà khắc đối với Việt Nam. Thời đó, sự căm ghét Việt Nam và những người lính Việt Cộng trở thành đỉnh điểm trong một bộ phận xã hội Mỹ, vì nước Mỹ hùng mạnh đã phải thua trận trước Việt Nam.
Dù biết là sẽ nhận nguy hiểm cho bản thân và gia đình mình, trở về Mỹ, Kevin Bowen vẫn quyết tâm thực hiện một chương trình giao lưu văn học Việt Mỹ: mời những nhà văn đích thực của Việt Nam, trong đó có Lê Lựu sang Mỹ để giao lưu với công chúng, nhằm để họ hiểu thêm về Việt Nam và văn hóa Việt.
Kevin đã dùng sự ảnh hưởng của mình để thuyết phục những chính trị gia như Thượng nghị sĩ Edward Kennedy và Thượng nghị sĩ Tip O’Neil, qua đó vận động chính phủ Mỹ cho phép chương trình giao lưu văn học Việt Mỹ.
Nếu chỉ sau lần gặp đầu tiên, Kevin đã đặt niềm tin tuyệt đối vào người bạn mới của mình thì nhà văn Lê Lựu cũng vậy. Nhận được lời mời của Kevin và trung tâm Willam Joiner, Lê Lựu khăn gói sang Mỹ mà không biết tiếng Anh, không biết đường đi nước.
Vì những vấn đề về visa, ông đã kẹt lại ở Băng-cốc một mình trong thời gian dài đằng đẵng ba tuần, mà vẫn không nản chí, để rồi chính niềm tin vào kẻ thù ngày xưa của dân tộc ông đã đưa ông qua biết bao chặng bay, vừa đi vừa lơ ngơ hỏi, để rồi khi gặp nhau, ông và người bạn Mỹ ấy ôm lấy nhau như những người anh em chí cốt.
Đối với một người Mỹ, tự dưng rước một người về ở nhà mình là một chuyện lạ, đằng này, một cựu binh Mỹ rước một lính Bắc Việt về ở ròng rã nhiều tuần trời là một chuyện lạ hơn nữa.
Nhưng sự hiện diện của Lê Lựu trong ngôi nhà mình làm Kevin thấy hãnh diện và xúc động “nhìn thấy Lê Lựu giao lưu với các cựu binh khác đã là một điều tuyệt vời, nhưng nay được nhìn thấy ông ấy chơi đùa với con tôi, nấu ăn, rửa bát, tôi xúc động biết bao.
Ông ấy sang Mỹ mà chẳng mang theo sách của mình, vì ở Việt Nam, những nhà văn viết tiểu thuyết không đọc tác phẩm của mình khi giao lưu với công chúng. Biết vậy, chúng tôi thất vọng lắm. Chúng tôi mong được nghe Lê Lựu đọc tác phẩm của mình cho những nhà văn cựu binh Mỹ.
Thật bất ngờ khi nghe tôi nói thế, Lê Lựu phẩy tay, cười khà, nói rằng thôi đừng lo, rồi tại Thư viện Boston ông đã đọc những trang đầu tiên của tiểu thuyết Thời xa vắng từ trí nhớ của mình. Thật kinh ngạc!”.
Và Kevin nói thêm “Lê Lựu dạy cho chúng tôi rất nhiều thứ về Việt Nam và một trong những kỷ niệm đẹp nhất giữa chúng tôi là lần tôi được ông đưa về thăm làng của ông vào năm 1990. Ông ấy là người anh, người chú, và là nguồn năng lượng dồi dào cho tất cả mọi công việc mà chúng tôi thực hiện”.
Còn đối với Lê Lựu, ông biết chính chiến tranh đã dâng tặng mình một người bạn đích thực: người bạn Mỹ ấy đã che dấu, bảo vệ ông trên đất Mỹ như những người dân Việt Nam yêu nước đã bảo vệ những người lính cộng sản nằm vùng trong chiến tranh.
Trong thời gian Lê Lựu ở Boston, Kevin và Nguyễn Bá Chung đã dùng mọi phương tiện để đảm bảo an toàn cá nhân cho Lê Lựu. Trong nhiều lần, họ phải tiến hành những cuộc họp bí mật dưới hầm nhà của Kevin – trong thời tiết nóng bức ngột ngạt.
Dù trải qua 27 năm, tình bạn của Kevin-Lê Lựu không hề phai nhòa mà ngày càng bền chặt. Mỗi lần trở lại Việt Nam, Kevin đều lặn lội đến thăm Lê Lựu để rồi Lê Lựu lại cầm tay Kevin mà khóc.
Họ đã chứng kiến con cái của nhau lớn lên, cùng chia sẻ những vui buồn của cuộc sống, chia sẻ cả cái chết của người thân yêu. Cùng nhau, và cùng những nhà văn của hai đất nước, họ đã biến giấc mơ văn học Việt Mỹ thành hiện thực.
Bảo Ninh và Larry Heinemann
Nếu số phận khiến Kevin Bowen và Lê Lựu trở thành những người anh em thân thiết, thì tác phẩm lại là sợi dây nối liền hai cựu binh Việt Nam và Mỹ từng vào sinh ra tử: nhà văn Bảo Ninh và nhà văn Larry Heinemann.
Trong chiến tranh, Bảo Ninh tham gia chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10, còn Larry Heinemann ở Củ Chi và Dầu Tiếng, cùng sư đoàn bộ binh 25.
Họ đã từng thoát chết trong gang tấc, từng chứng kiến những điều khủng khiếp và dã man nhất của chiến tranh, để rồi bằng máu và nước mắt, đã khắc họa lên bộ mặt thật của chiến tranh bằng những tác phẩm đã trở thành kinh điển của văn học thế giới như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và Chuyện của Paco (Larry Heinemann).
Larry Heineman cho tôi biết rằng ông và Bảo Ninh đã gặp nhau nhiều năm trước ở một hội thảo văn học được tổ chức tại Trường đại học Montana, tiểu bang Missoula Mỹ, sau đó hai người cùng có hai tuần tại trung tâm William Joiner.
“Tôi nhớ mãi cảm giác lần đầu tiên gặp Bảo Ninh, rằng mặc dù chưa kịp nói với nhau lần nào, nhưng tôi đã thích Bảo Ninh ngay lập tức. Có một điều gì đó trên khuôn mặt của ông ấy và cách cư xử của ông ấy – đặc biệt là đôi mắt – đã làm tôi chú ý.
Rõ rằng là chúng tôi chia sẻ nhiều thứ. Cả hai chúng tôi là những thằng lính bình thường thực hiện những công việc lính tráng thường tình. Chúng tôi đều bị chiến tranh tác động sâu sắc và viết về nó với thứ ngôn ngữ xù xì của những thằng lính thường dân.
Có một nỗi buồn mà cả hai chúng tôi không thể nào lẩn tránh. Chúng tôi là hai người anh em máu mủ, hai cựu chiến binh, nhưng chúng tôi cũng là những người anh em—mặc dù chúng tôi nói được rất ít ngôn ngữ của nhau”.
Trong cuộc phỏng vấn với Kurt Jacobsen, Larry Heinemann cho biết: Bảo Ninh là nhà văn Việt Nam đầu tiên mà Larry cảm thấy có mối liên hệ đặc biệt. Và Larry nhớ từng chi tiết của những cuộc gặp giữa họ:
“Ông ấy nhập ngũ năm 1968, thuộc một tiểu đoàn có 500 người đi bộ ròng rã sáu tháng trời theo đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam. Ông ấy đã tham gia trận chiến cuối cùng ở sân bay Tân Sơn Nhất, năm 1975.
Ông ấy bảo tôi rằng, buổi sáng cuối cùng của chiến tranh, chỉ còn 12 người sống sót trong tiểu đoàn 500 người của ông ấy. Vào cuối ngày, chỉ ba người còn sống…Tôi đã từng hỏi rằng việc khó nhất mà ông ấy từng làm là gì.
Ông ấy nói rằng đó là việc phải chôn cất tất cả những người bạn của ông ấy. Từ đó, tôi thôi không than phiền về những điều khủng khiếp mà tôi đã trải qua trong chiến tranh nữa” .
Đón đọc Kỳ II: Những người bắc cầu qua 'vực thẳm'
- Nguyễn Phan Quế Mai










