Chính phủ đã ban hành Nghị định số 374/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa việc xác định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp, nhưng làm rõ và đầy đủ hơn các trường hợp được tính là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Ngoài các trường hợp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp ở tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước đó, nghỉ ốm đau, thai sản, nghỉ không lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày trở lên trong tháng, Nghị định 374/2025/NĐ-CP bổ sung, nhấn mạnh trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Đáng chú ý, các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định cụ thể, chi tiết hơn.
Theo Điều 8 Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp sau:
(1) Đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng còn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa được giải quyết hưởng, với điều kiện tổng thời gian đã đóng trên 36 tháng đến đủ 144 tháng; phần thời gian chưa giải quyết hưởng này được bảo lưu để tính cho lần hưởng tiếp theo. Trường hợp đã đóng trên 144 tháng thì phần chưa giải quyết hưởng không được bảo lưu.
(2) Bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Khi đó, toàn bộ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng được bảo lưu. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
(3) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng thuộc các trường hợp pháp luật cho phép bảo lưu. Phần thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu là thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có việc làm thuộc trường hợp giao kết hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc đã thực hiện thông báo với tổ chức dịch vụ việc làm công theo quy định, nhưng chưa có bản sao hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc, thì phải có cam kết thể hiện nội dung về ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết có hiệu lực, lý do chưa cung cấp được bản sao hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Đồng thời, nộp bổ sung bản sao hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Trường hợp gửi qua dịch vụ bưu chính, thì tính theo ngày đi ghi trên dấu bưu chính.
(4) Không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản; số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền được bảo lưu.
(5) Được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp. Nghị định quy định cách tính cụ thể để xác định số tháng được bảo lưu, đặc biệt trong trường hợp lần hưởng sau cùng có thời gian đóng dưới 36 tháng.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần còn được bảo lưu.
Cơ quan Bảo hiểm xã hội căn cứ các quyết định liên quan đến việc hưởng trợ cấp thất nghiệp và việc xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để thực hiện việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, trong năm 2025, có trên 745.000 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 12,2% so với năm 2024; trên 710.000 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 14,2%; đã có hơn 19.600 người được hỗ trợ học nghề, giảm 9,7%.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định thị trường lao động và đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động, thông qua các biện pháp hỗ trợ tài chính, tư vấn giới thiệu việc làm cho lao động thất nghiệp, và hỗ trợ đào tạo, nâng cao tay nghề. Qua đó giúp người lao động sớm trở lại thị trường lao động.
Tác giả: Mỹ Dạ
-
Xác định thời điểm hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
-
Người lao động ở các địa bàn này được nghỉ hưu sớm 5 năm kể từ năm 2026
-
Hướng dẫn cách bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động
-
Từ năm 2026, 2 nhóm đối tượng được tăng mức hưởng bảo hiểm y tế lên 100%
-
11 nhóm đối tượng này sẽ được BHYT chi trả toàn bộ chi phí khám chữa bệnh từ ngày 1/1/2026