Thứ Năm, 28/06/2012, 17:44 [GMT+7]
.
.

Hãy trỗi dậy và hãy đến!

(Nghệ thuật mới) - Trong thời hiện đại, Cái Ðẹp lãng mạn cổ xưa của thi ca đã bị phân tán thành nhiều mảnh khác nhau. Con người không còn cố gắng đi tìm chân lý tuyệt đối nữa. Thay vào đó, nhiều chân lý nho nhỏ được chứng minh mỗi ngày mà không phải mất một nỗ lực nào. Sau một nút nhấn đơn giản trên máy tính, chúng ta tức khắc có được một chân lý. Như vậy, công việc trước kia thuộc về linh hồn thì nay, xác thịt đã làm thay.


Linh hồn nhân gian ngủ yên không còn phải thao thức nữa. Thơ ca thế giới ngay lập tức mất đi vẻ mê hoặc. Một Yves Bonnejoy viết những câu thơ âm u, tối nghĩa, một Pinsky với những câu thơ bình dân...chỉ làm tăng thêm sự tuyệt vọng của thi ca hiện đại.

Cái Ðẹp tuyệt đối bị xé nhỏ. Mỗi dân tộc mang lấy một mảnh và gọi đó là tính dân tộc của mình. Nhưng ngay lập tức, như một quy luật bất biến, từ cái thế giới tưởng như bị phân liệt hoàn toàn ấy, Cái Ðẹp tuyệt đối lại thức dậy và gào gọi trên đầu nhân gian.

Ðây là một biến đổi hoàn toàn mang tính tâm lý vì khi rơi xuống đáy tuyệt vọng, bao giờ con người cũng khao khát một tình trạng tốt hơn một chút so với tình trạng tuyệt vọng đó. Chỉ cần có niềm khao khát vươn tới điều tốt hơn so với cuộc sống của mình, con người tức thì nhận được "ánh nhìn" của Cái Ðẹp.

Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ Sự mất ngủ của lửa.
Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ "Sự mất ngủ của lửa".

Nó xuất hiện khi những vẻ đẹp hiện đại đang lịm ngủ cùng với bạch phiến và thuốc an thần. Ðây chính là thời khắc Nguyễn Quang Thiều sáng tạo ra những câu thơ ngùn ngụt lửa của mình. Trong bài thơ "Dưới trăng và một bậc cửa", ông đã cho chúng ta cảm nhận quá trình hồi sinh mỹ cảm thực sự của thế giới như thế nào.

Từ cảm giác mất hết dưỡng khí trong vũ hội giả tạo của các vẻ đẹp giả đến cuộc tháo chạy của chúng và cuối cùng con người hồi sinh với cảm thức về Cái Ðẹp tuyệt đối. Khi ánh trăng xuất hiện - ánh trăng biểu tượng cho Cái Ðẹp tuyệt đối - cả thế gian ánh lên huy hoàng trong chốc lát.

Nhưng thế gian ấy được tạo dựng bằng những vẻ đẹp tương đối, nên chúng không thể tiếp nhận Mặt Trăng mà không rối loạn. Hành động có ích nhất (do đó nó mang một nét thực nhất) của những giá trị tương đối ấy là chúng mau chóng nhận lấy cái chết và tan biến vào hư vô.

Con người trần trụi. Cái Ðẹp đâm thẳng vào trái tim cằn khô bằng những lớp hào quang ở nơi "Những con sóng trăng đang vật vã".

Nhịp thơ gấp gáp rồi chậm rãi hệt như nước thuỷ triều bị chi phối bởi mặt trăng. Những động từ mạnh như đập vào vách đá. Nhịp câu thơ chùng xuống như thể sóng lui xuống một nhịp rồi lại bùng nổ với một động từ khác.

Vách đá trơ lỳ của thế giới không thể không rung động. Trong hầu hết những bài thơ của mình, ông sử dụng những động từ mạnh, liên tiếp nối nhau trong câu thơ rõ ràng để tạo ra sự dâng lên khốc liệt này. Thủ pháp này rất khó thực hiện.

Thơ ca hiện đại chủ yếu dùng những khái niệm của triết học, thần học, tâm lý để phô bầy cá nhân mình. Và cũng chính vì thế mà thơ ca"mắc kẹt" luôn ở trong những khái niệm đó. Thi ca không chỉ chạm nhẹ vào đời sống mà tự nó phải là một hiện thực hoàn hảo của đời sống.

Hiện thực đó do được tái tạo qua ngôn từ nên rất dễ trở nên bất động. Bản thân các thi sĩ qua những phút giây xuất thần của mình hiểu được rằng "Hiện thực toàn hảo" đó có thể tái tạo được. Nhưng chúng ta không thể lấy những hình ảnh của thế giới chúng ta đang sống, thế giới của những tồn tại tương đối và mau tàn để có thể trình bầy về Hiện thực toàn hảo đó.

Ðây, một Faust của Goethe đang ngồi dịch Phúc âm theo St. John và dịch câu đầu: "Khởi thuỷ là Hành động". Trong ngôn ngữ thi ca của mình, Nguyễn Quang Thiều "dịch": "Khởi thuỷ là Động từ". "Hành động" tạo ra cảm giác là tác giả đứng bên ngoài mà nhìn một "hành động" nào đó.

Còn với "Động từ", chúng ta không chỉ cảm thấy sự vận động lập tức mà còn tham gia trực tiếp vào đó. Những ngọn thuỷ triều của ngôn từ, của cái đẹp tiếp tục dội vào bề mặt của đời sống. Và hàng triệu năm nay như chúng ta đã thấy, cuộc sống vẫn trơ lỳ.

Những vẻ đẹp giả tạo đã làm cho cuộc đời giá lạnh. Thế giới trống rỗng. Sự vật lẻ loi đơn độc ngay trong chính bản chất của mình. Ông muốn xốc lại cái thế giới đã thiếp ngủ. Trước khi xoá những đám mây giả tạo chỉ cho chúng, Mặt trăng vĩnh cửu, nhà thơ phải khiến sự vật trở về với thiên tính của chúng.

Bài thơ dài "Bài ca những con chim đêm" đã minh chứng nỗ lực đó.

Như chỉ còn sóng rì rào, như chỉ còn lại nước
Như chỉ còn xa xăm, thiêm thiếp những quả đồi
Như chỉ còn gió đi qua rừng bạch đàn thẫm tối
Buồn bã lời thở than của diệp lục suy tàn

Mật độ các hình ảnh trong bài thơ dầy đặc. Những hình ảnh ép vào nhau. Chúng ta có thể tức thời cảm thấy sự tức thở của không gian trong bài thơ. Ngột ngạt. Phải trào ra bên ngoài. Những sự vật buộc phải như vậy. Sự trống rỗng vẫn tăng lên và lớp lớp hình ảnh được dồn nén vào nhau.

Bài thơ báo cho chúng ta khoảng trống vắng ghê gớm của cuộc sống hiện đại. Và những con chim, cùng với những tạo vật (có những đôi cánh vô hình) buộc phải bay lên theo đúng thiên mệnh của mình.

Con đường thi ca của Nguyễn Quang Thiều luôn luôn chứa đầy những khúc ngoặt bi kịch. Ðối với ông, đời sống giống như một ngọn cuồng phong, nếu ngọn cuồng phong đó dừng lại một chút thôi thì sự dừng lại đó đồng nghĩa với sự tắt lặng, tan biến, nghĩa là cái chết.

Tập thơ Ngôi nhà tuổi mười bẩy đưa ông đến với một thế giới trong sáng, tinh khiết của một đời sống ký ức và cả những lo âu thân thuộc của làng quê. Tất cả cảm giác đó vô tình đặt nhà thơ đứng vào một vực thẳm thực sự.

Vực thẳm này nhiều nhà thơ đã mắc phải nhưng hầu như không ai nhận ra. Sự trong sáng, tinh khôi của tuổi thơ, của làng quê luôn luôn là nền tảng tâm hồn con người, nhưng, ở đây chúng ta cần hiểu rõ ràng, chúng cũng không bao giờ là trọng tâm của đời sống hiện tại.

Giây phút hiện tại khi chúng ta đang thở mới chính là "da thịt' của cuộc sống. Nhiều nhà thơ tưởng lầm những kỷ niệm trong trẻo này là bản chất của cuộc đời nên đã tự vùi mình suốt đời trong đó. Không còn cách nào khác, dù phải túa máu, nhà thơ buộc phải bước qua lớp cảm giác trong sáng, dịu nhẹ đó.

Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ Sự mất ngủ của lửa. Không cần nhắc lại chúng ta cũng biết sự đóng góp vô cùng lớn lao của tập thơ này đối với các trào lưu thơ ca hiện đại từ hình thức, ngôn ngữ đến ý tưởng hiện diện trong đó.

Nhưng tôi khẳng định rằng sự đóng góp lớn lao nhất của tập thơ Sự mất ngủ của lửa không chỉ đối với thơ ca hiện đại nói riêng mà nó còn tác động nhiều đến mỹ cảm của người Việt hiện đại. Thường thường, sự cảm nhận nghệ thuật theo thói quen cũ vẫn còn biểu hiện rất rõ ở đa số chúng ta.

Khi được hỏi về một tác phẩm nghệ thuật, hầu hết chúng ta đều trả lời tương tự như nhau: "Tôi "cảm thấy" hay'' hoặc là: "Tôi thích vì hình như nó có một cái gì đó". Chúng ta không thể lên tiếng một cách chính xác, rành mạch, rõ ràng về điều mà chúng ta nhận được khi thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật.

Khi đọc "Những người đàn bà gánh nước sông" và "Sự mất ngủ của lửa", hình ảnh, ngôn từ của bài thơ buộc chúng ta phải thay đổi thói quen "thưởng thức" của mình. Các bài thơ hầu như "gạt bỏ" hết làn khói mù mờ của cảm giác mà đi thẳng vào những biến đổi nội tâm của con người trước thực tại.

Ðó có lẽ chính là khúc ngoặt lớn trong tâm hồn không chỉ của nhà thơ mà còn của cả những thế hệ tiếp nối, thế hệ hậu chiến và thời hiện đại. Khi lớp sương mù của khu rừng ký ức "buộc" phải tan biến, lúc này người đọc mới nhận ra con mãnh sư trong tâm hồn nhà thơ.

Chối từ tất cả những đề tài quen thuộc, chối từ tất cả những hình ảnh quen thuộc, chối từ tất cả những lối dùng từ trơ mòn...như thể chối từ thói quen bầy đàn của loài thú, con mãnh sư đơn độc bước những sải chân rớm máu va hiểm nguy trong khu rừng thực tại.

Bởi vì rất có thể sự cô đơn sẽ khiến cảm thức bầy đàn trỗi dậy. Tập thơ Bài ca những con chim đêm vang dội tiếng thét khi đời sống quá uể oải, nhàm chán và trơ cùn.

Tất cả thực tại giật nảy lên và trong sự sợ hãi, đau đớn thực sự, chúng dường như tìm ra con đường sáng vươn lên tới tận đỉnh đồi của sự bình yên bất tử. Ðể tìm thấy con đường sáng đó, đôi khi chúng ta cũng phải trả giá vì những gì mà chúng ta ngỡ như chúng quá "cần thiết" với mình.

Tôi trở về khu vườn hoang tôi đã bỏ đi
Như con cào cào mải dài ra đôi cánh của mình mà quên mất đường bay
Như con rắn mải mê với nhịp uốn sống lưng của mình mà dời bỏ cái tổ con con phải cuộn tròn khi ngủ
Vội vã hoàng hôn tôi cuốn áo chạy về

Chính những sự tưởng như rất thiết thực và tốt đẹp đó đã cản trở cuộc trùng phùng của tâm hồn con người với tình yêu chí thượng.

Trong thơ hiện đại, thể loại trường ca đã bị biến chất. Trường ca hiện đại giống như một bài thơ dài kể về một sự kiện xã hội nào đó. Ðiều này là do ảnh hưởng dòng trường ca bình dân của Byron, thi sĩ nước Anh.

Trường ca hiện đại là một thể loại khó xác định nhất và do đó khó sáng tác nhất. Nguyễn Quang Thiều đã vật lộn với thể loại này trong ba bản trường ca dài. Trong hai trường ca Nhịp điệu châu thổ mới và Nhân chứng của cái chết Nguyễn Quang Thiều đưa được chất bi kịch của sân khấu cổ điển vào cấu trúc trường ca.

Trường ca gồm nhiều chương và hầu hết các chương đó trình bầy, lý giải cho một ý tưởng nào đó, những ý tưởng "đối điểm" nhưng được biện minh ngang nhau. Nhưng ở chương cuối cùng, thay vì"tàn sát các ý tưởng" để giải thoát con người, ông hé mở một thực tại mới ở nơi con người có thể "nhìn thấy "được mà không phải trả giá bằng cái chết.

Trong "Nhịp điệu châu thổ mới", bắt đầu với cái chết của một người nông dân, gồm những khúc nhạc tang lễ, những lời cầu khấn thần linh, những phong tục, lễ nghi. Người đọc thấy một "hiện thực tàn lụi" đã được nhà thơ dựng lên như thế nào.

Nhưng ở chương kết, tất cả được đảo ngược. Hiện thực đó được soi dọi và hồi sinh. Nhà thơ ca ngợi sự sống vĩnh hằng thông qua sự tàn lụi của một kiếp người Trường ca tưởng như đi theo hành trình của sự tàn lụi, nhưng qua đó, một hiện thực mới, trọn vẹn hơn được nhen nhóm hình thành.

Ðây chính là dòng tinh thần chính bên trên ngôn ngữ và chính là đặc điểm độc đáo mà ông mang lại cho thể loại trường ca hiện đại. Cái chết đó chính là cuộc đưa tiễn những nạn nhân của những giá trị tương đối.

Cùng với những vẻ đẹp tương đối ấy, những tâm hồn đó không còn cách nào khác là ngã xuống một lần. Và nếu vầng dương của tình yêu có rọi đến, họ sẽ trỗi dậy.

Trong thi ca phương đông hiện đại, bậc đạo sư Ấn-độ, Tagor, đã đi hết con đường của mình. Ông để lại một Chân Lý tuyệt đối bằng những khái niệm không thật rõ ràng.Thượng Đế nơi ông là một lý tưởng thuần khiết, trinh bạch nhất,khó nắm bắt nhất và do đó không có "nhân tính".

Trường phái thơ mông lung của Trung Quốc chỉ là một kiểu gọi bóng bẩy, thực chất đó là dòng thơ Thiền đã suy tàn vì những giá trị hiện đại. Các nhà thơ phương Ðông hầu như không vượt khỏi Cái Tôi của mình.

Cái Tôi ấy cho dù có phát triển thành Siêu Cá Nhân cũng không giúp cho thi ca phát triển. Chúng ta thành siêu nhân và trở nên lười biếng khi tâm hồn chạm vào cõi hư không mù mờ. Không ai cố giải thích sự mù mờ đó ngay cả các thiền sư.

Nhưng sự mù mờ này không có đáy và do đó, những kẻ yếu đuối, lười nhác và mơ mộng lại quay về ngủ yên trên lớp cảm giác do thói quen sinh ra. Lớp cảm giác luôn luôn sinh ra và luôn luôn mất đi, giống như những lớp sóng đập không ngừng ở bờ đá và để lại bao nhiêu "xác chết".

Trong cõi tinh thần thượng đỉnh nhưng mù mờ đó, tinh thần thi ca của Nguyễn Quang Thiều đã vượt ra khỏi vòng vây đơn điệu và thường nhật. Ông rõ ràng nhận thấy qua lớp sương huyễn hoặc đó một mặt trăng trọn vẹn.

Và trong những vùng biển thi ca, dưới ánh trăng vàng lộng lẫy, người đọc thấy ông đơn độc đi trên những gờ đá. Thuỷ triều đang lên vì vẻ đẹp của mặt trăng không chỉ mời gọi nó mà còn thúc đẩy nó. Những con sóng vẫn ngủ yên.

Những động từ của ông thét lên: Sự xói lở, sự hỗn loạn, sự mù mờ của các ngươi đã được thứ tha. Hãy Trỗi Dậy và Hãy Ðến. Nơi Tình Yêu muôn đời đang vật vã vì ngươi.

  • Nguyễn Quyến
;
.
.
.