Thứ Ba, 26/06/2012, 16:50 [GMT+7]
.
.

Thơ Việt Nam đương đại từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều (I)

(Nghệ thuật mới) - Để làm được điều đó, người viết phải giàu nội lực, đầy bản lĩnh và dám chấp nhận, thậm chí đám đánh cược với may rủi. Không muốn trở thành kẻ thất cước với lịch sử, Nguyễn Quang Thiều vẫn cố gắng tạo ra những kết hợp mới trên nền thi học truyền thống.

LTS: Làng thơ và giới phê bình đã quá quen với thơ Nguyễn Quang Thiều, quen với các nhận xét mang tính đồng nhất thơ anh với các khái niệm: Hiện đại, Cách tân...thậm chí, có người còn cụ thể hơn như: thơ Nguyễn Quang Thiều có nhịp điệu Mỹ La Tinh, có chất lửa của Mỹ La Tinh v.v...

Muốn nói gì thì nói, trên mặt bằng hiện nay, nói đến thơ ca hiện đại thì cái tên Nguyễn Quang Thiều vẫn cứ được người ta nhắc đến như một đại diện, một cái tên không thể thiếu trong các cuộc bàn cãi tranh luận. Xin giới thiệu bài viết khá công phu của nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam như một lời đề dẫn cho cuộc hội thảo về Thơ Nguyễn Quang Thiều sắp tới.

Ta vẽ mắt nhân loại hình lục giác – NQT

1. Chuyển động và lựa chọn: Về thơ Việt Nam đương đại, hiện có nhiều đánh giá khác nhau. Người bảo “nền rộng nhưng thiếu đỉnh”. Người bảo “thơ đi ngang”. Người lại quả quyết, thơ hiện nay “ngang ngửa” thậm chí “chất lượng và bề thế hơn” thơ các giai đoạn trước...


Những đánh giá ấy, dĩ nhiên, xuất phát từ những góc nhìn và tâm thế khác nhau. Nhưng sự tản mạn, không thống nhất về thơ sau 1975 là điều có thể hiểu được, vì, thứ nhất, độ lùi đánh giá chưa xa; và, thứ hai, so với thơ ca trước đây, thơ Việt sau 1975 phức tạp hơn, tính ly tâm cao hơn.

Phức tạp bởi các nhà thơ không còn bó mình trong một kiểu nghĩ, một trường thẩm mỹ chung. Ly tâm bởi muôn nẻo kiếm tìm và phương cách biểu đạt bản thể. Thêm nữa, mỹ cảm nghệ thuật hiện đại/ hậu hiện đại đã khai mở và kích thích những cuộc phiêu lưu bất tận của nhà thơ, cái toàn trị đã dần nhường chỗ cho cái phân mảnh, tiếng nói cộng đồng đã nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân,...

Giờ đây, người ta đang chứng kiến sự hiện diện cùng lúc nhiều loại hình giá trị: trung tâm và ngoại vi, chính thống và phi chính thống, cao sang và suồng sã, cổ điển và phi cổ điển,...

Ấy là chưa nói đến sự hòa trộn thể loại, sự xóa nhòa phong cách, sự tương tác giữa các loại hình nghệ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho lý luận về thể loại và lý thuyết về văn học phải nhanh chóng điều chỉnh, thay đổi nếu muốn bắt kịp những chuyển động cũng như những kết hợp nghệ thuật mới...

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Sự rối trí của người đọc và của giới phê bình, vì những lý do đã nói, thể hiện không chỉ trong những nhận định mang tính khái quát về một giai đoạn văn học mà còn thể hiện trong việc định giá, lý giải những trường hợp cụ thể.

Điều đó có thể nhìn thấy trong hàng loạt diễn giải về thơ sau 1975 và sáng tác của nhiều cây bút cách tân trong đó có Nguyễn Quang Thiều. Không ít người tỏ ý thích thơ Thiều mặc dù... chẳng hiểu gì. Với họ, thi giới Nguyễn Quang Thiều đầy ma lực nhưng lại quá phức tạp. Phức tạp như một mê cung!

Vì phức tạp nên đến nay thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn chẻ đôi dư luận. Phía hăm hở khẳng định Thiều là gương mặt cách tân táo bạo, là người xác lập hẳn một trường thơ có độ phủ sóng rộng và mạnh; phía dè bỉu Thiều không biết làm thơ, thơ như thơ dịch,...

Nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp tục, và xem ra, thơ anh ngày càng khiêu khích hơn. Khiêu khích bằng những văn bản lổn nhổn và rối bời; bằng những câu thơ dài loằng ngoằng mà không chịu thu gọn lại. Bình thản trước mọi dư luận, Nguyễn Quang Thiều tự tin và kiên trì một xác tín: sáng tạo là những khoảnh khắc cô đơn kỳ diệu.

Đó là những khoảnh khắc thi sĩ có khả năng nới rộng các chiều kích không/ thời gian và  “bóp méo” cái tôi bản thể để thiết tạo cái tôi đa diện, là những bước chân lang thang trong cõi mộng du hoang tưởng không có điểm dừng.

Chính trong những thời khắc mộng du ấy, nhà thơ được chứng thực sự hiện hữu của một thế giới không hề bị mất đi. Đó là một thế giới tâm linh hỗn độn và phi lý, không hề khô cứng mà luôn “chuyển động”, “sinh nở”, và “biến ảo”.

Tất nhiên, là tiếng nói của những giấc mơ, Nguyễn Quang Thiều cũng như nhiều thi sĩ cách tân khác đã trượt khỏi những quy phạm và nguyên tắc từ chương cổ điển.

Có lẽ, yếu tố đầu tiên tạo nên sự khác biệt trong thơ Nguyễn Quang Thiều là ý thức khai tử những thói quen và thái độ đoạn tuyệt những diễn ngôn đã ngả màu mòn sáo. Sự lựa chọn ấy nguy hiểm và cô đơn.

Nhưng bằng linh cảm nghệ thuật và tinh thần dấn thân, Nguyễn Quang Thiều hiểu rõ, chấp nhận điều đó. Chỉ có thế, tất cả mới THỨC DẬY ĐỂ CHÀO ĐÓN MỘT GIỌNG NÓI.

Khi để Lễ tạ mở đầu cho tập Châu thổ, hẳn Nguyễn Quang Thiều có lý do của mình. Trong lễ tạ của Thiều, có một trở về và một ra đi...  Trở về là ý thức gắn kết với trầm tích văn hóa bản địa, với phương Đông (hồ nước cũ)...

Ra đi là kiếm tìm một chân trời khác, một khung trời tượng trưng siêu thực, là độ mở để làm trĩu nặng thêm phù sa châu thổ thi ca (với tổ hợp xuống dòng: Con đường/ Con đường/ Con đường)... Nhiều người có ý chê Nguyễn Quang Thiều nặng Tây mà nhẹ Đông.

Không sai, nhưng cũng chẳng hoàn toàn đúng. Và thực ra, sự phân xuất ấy, theo tôi không quá quan trọng, vì những nhà thơ đích thực bao giờ cũng biết học tập tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại. Điều quan trọng nhất là từ dưỡng chất văn hóa ấy, anh ta sẽ tổng hợp, chiết xuất và sáng tạo cái mới ra sao.

Để làm được điều đó, người viết phải giàu nội lực, đầy bản lĩnh và dám chấp nhận, thậm chí đám đánh cược với may rủi. Không muốn trở thành kẻ thất cước với lịch sử, Nguyễn Quang Thiều vẫn cố gắng tạo ra những kết hợp mới trên nền thi học truyền thống:

Ngẩng đầu một vầng mây đỏ
Nổ vang tiếng sấm lưng trời
Cúi đầu một miền cỏ trắng
Nở xòe tám hướng bốn phương (Lễ tạ).

Về logic hình thức, người đọc có thể nhận thấy những động thái trữ tình ngẩng-cúi hoàn toàn không mới. Nó từng xuất hiện trong Tĩnh dạ tư của Lý Bạch đời Đường. Trong thi học Đường thi, nhà thơ thường xây tứ trên tương quan đối lập, sử dụng luật viễn cận để miêu tả tâm trạng, lấy tỉnh lược tạo tính hàm súc, tập trung tinh lực tạo thần cú, nhãn tự để làm “kinh động” lòng người (chữ của Thánh thi Đỗ Phủ).

Nhưng trong thơ hiện đại, vặn chữ, chuốt từ, sử dụng luật bằng trắc điêu luyện không còn là ưu tiên hàng đầu mà ưu tiên hàng đầu là tạo dựng cấu trúc đa nghĩa trên cơ sở cái nhìn cá nhân và nhu cầu giải phóng cá tính.

Trường tri thức quy định diễn ngôn thơ họ là trường tri thức hiện đại mang đầy nỗi bất an và niềm hoài nghi thường trực về thế giới, con người. Cũng bởi thế, Nguyễn Quang Thiều cố gắng tạo nên tiếng nói cá nhân trên nền mỹ học thi ca hiện đại.

Với ông, lạ hóa là thủ pháp làm mới cái đã quen, chiếu rọi một ánh sáng mới để làm hiển lộ những tầng sâu ẩn khuất, là ý thức tạo ra những không gian mở buộc người đọc phải tự lấp đầy những khoảng trống của văn bản, khơi gợi những liên tưởng mới để mở ra trường thẩm mỹ vô tận của thi ca.

Để ánh sáng không còn là ánh sáng đơn thuần mà trở thành cây ánh sáng, bừng nở nhiều ánh sáng khác nhau... Ánh sáng ấy gắn liền với miền tâm linh và cõi mộng tưởng Nguyễn Quang Thiều.

Sự lệch chuẩn của Nguyễn Quang Thiều trong tổ chức nghệ thuật biểu đạt khiến cho không ít người khẳng định thơ Thiều không khác gì “thơ dịch” là vì thế. Nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy trong thơ Nguyễn Quang Thiều, tần số từ ngữ nhắc nhớ về cố hương chiếm tỷ lệ rất lớn.

Dày đặc trong thơ ông là hình ảnh ông bà tổ tiên, cánh đồng, dòng sông, bầy chó, cánh buồm,... Là thi sĩ hiện đại, dù chìm ngập trong cõi mộng mị hoang tưởng, dù luôn nỗ lực lạ hóa cách biểu đạt thì cuối cùng Nguyễn Quang Thiều vẫn bị ám ảnh và gắn kết với cuống nhau văn hóa dân tộc.

Thơ Nguyễn Quang Thiều, trong sâu thẳm, vẫn là tiếng thơ của kẻ duy tình, mà duy tình, vốn là gen trội trong tính cách Việt. Điều đáng nói là ở chỗ, Nguyễn Quang Thiều không viết về cố hương như những bài ca đầy ắp trữ tình trước đây, không quá chú trọng miêu tả cái nên thơ theo tinh thần văn học phản ánh hiện thực (mà thực chất, đó là hiện thực biết trước).

Nói theo ngôn ngữ của Kant, Nguyễn Quang Thiều không quá lệ thuộc cái ngoài ta mà ông chú ý trình bày cái trong ta. Cũng bởi thế, tất cả những hình ảnh gắn liền với cố hương đều có ý nghĩa như một hằng số văn hóa, và quan trọng hơn, được thể hiện bởi mỹ cảm hiện đại, thi pháp hiện đại.

Từ truyền thống mà ra đi về phía hiện đại. Ra đi rồi trở về. Trở về hiểu rõ hơn mình là mình, thấy rõ mình trong tha nhân, thấy mình là một phần của lịch sử và lịch sử là một phần của mình. Nếu hình dung như thế, làng quê trong thơ Thiều đích thực là một mẫu gốc văn hóa (archetyp).

Là mẫu gốc, nó đẫm màu huyền thoại, riêng biệt nhưng phổ quát. Vậy nên, những cánh đồng rau khúc, nhịp thở của đất đai, linh hồn những bình gốm cũ,... trong thơ Nguyễn Quang Thiều thực chất là những biểu tượng văn hóa sâu sắc và nhân văn, nó có khả năng đánh thức người đọc bất cứ nơi đâu niềm thương cảm cố hương.

Với Nguyễn Quang Thiều, cố hương không hẳn là những giá trị hoàn tất mà là điểm trở về, nó luôn song hành cùng hiện tại, gắn với hiện tại bởi những sợi đây tinh thần sâu thẳm. Về điều này, tôi nhớ những câu thơ Nguyễn Đình Thi:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.

Giống Nguyễn Đình Thi, trong cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, hình xác có thể mất, nhưng tinh anh, hồn vía thì mãi còn. Bởi thế, trong “hòa âm của những đa bào”, nhà thơ nhận thấy thấy cái chết là khởi đầu của tái sinh:

Tất cả là sáo mòn, tất cả là vô sinh trừ ngọn lửa/ Vừa thức dậy dịu dàng tắm rửa những ban mai... Tôn sùng những giá trị tinh thần không phải bằng những mỹ từ to tát mà từ trong những điều nhỏ nhặt, bình dị nhất, Nguyễn Quang Thiều nghe thấy sự thanh khiết vang lên trong hỗn tạp, lấm láp đất bùn.

Có lẽ vì thế mà Thiều dựng lên nhiều nghi lễ - những nghi lễ tinh thần. Những khúc hát của Thiều về cố hương bao giờ cũng nói đến mối gắn kết cá nhân và cộng đồng. Đứa con của làng Chùa luôn nhận thấy mình trong cộng đồng và cất tiếng hát say mê từ những tín niệm ấy:

Tôi hát bài ca về cố hương tôi
Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó
Nó không tiêu tan
Nó thành con giun đất

Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao
Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ
Bò qua  tha ma người làng chết đói
Đất đùn lên máu chảy ròng ròng...

Điều cần nói là trong thơ Nguyễn Quang Thiều không còn lai vãng bóng dáng những câu thơ đậm chất ngâm ngợi ngọt lịm trữ tình và những ẩn dụ thi vị.

Nguyễn Quang Thiều đã vượt qua được cách nói mòn sáo trong thơ để tạo nên một ngôn ngữ mới. Đó là kết quả của một lựa chọn, là sản phẩm của những cách tân táo bạo và quyết liệt.

Trong sáng tạo nghệ thuật, sự lựa chọn hướng đi và tìm kiếm giọng điệu cá nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ nhà thơ nào. Thậm chí, nó quyết định thành bại của một đời thơ. Để minh chứng rõ hơn về lựa chọn nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều, tôi muốn bắt đầu từ phép loại suy.

Băn khoăn đầu tiên là liệu Nguyễn Quang Thiều có đủ sức “chơi” những thể thơ truyền thống hay không? Tôi tin là được. Hãy đọc lục bát Nguyễn Quang Thiều:

Thưa cha, con đã dâng trà
Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi
Làng nghèo ngồi đếm chim ri
Con nghèo con đếm thầm thì trong mơ (Dâng trà);

Bây giờ đang cuối mùa đông
Làng bao cô gái lấy chồng đi xa
Chút chiều hoe nắng ngõ nhà
Tôi đi, tôi đứng để mà vu vơ (Bây giờ đang cuối mùa đông)...

Thiều có đủ sức làm thơ năm chữ hay không? Xin thưa là có, dù trong Châu thổ, Nguyễn Quang Thiều chỉ chọn một bài. Hãy đọc thể năm chữ mang sắc thái đồng dao của Thiều:

Có một con mèo hoang
Lang thang trên đồng cỏ
Bốn cái chân gầy nhỏ
Đôi mắt trong buồn teo [....]

Ôi cái con mèo hoang
Lang thang trên đồng cỏ
Đêm về nhìn ngọn lửa
Tha nỗi niềm tôi đi (Có một con mèo hoang)...

Xem ra, về mặt thể loại, Nguyễn Quang Thiều không xa lạ với truyền thống. Và nếu lựa chọn sự bình yên như thế, hẳn Thiều sẽ có nhiều bài thơ “đọc được”. Nhưng chắc chắn, đột phá thì không!

Băn khoăn thứ hai là liệu Nguyễn Quang Thiều có khả năng tiếp nối chất trữ tình ngọt ngào trong thơ chống Mỹ hay không? Tôi tin Thiều dư sức:

Chúng tôi ngồi trong đêm rưng rưng
Thương cây nhị như mẹ ngồi bậc cửa
Bao câu hát khi già mẹ không còn nhớ nữa
Đồng đội ơi cây nhị thay lời (Đêm sân ga);

Chiều phủ kín hết rồi
Mẹ ngồi thở từng cơn
Những mắt hương mắt người hoe đỏ
Trong hoàng hôn hàng trăm bia mộ
Cùng dâng hương lặng lẽ đến quanh người... (Trong chiều nghĩa trang)...

Nhưng đây là những câu thơ nhìn qua thì đẹp, đọc kỹ thì xốp. Nếu cứ tiếp tục hướng đi này, rốt cục, Nguyễn Quang Thiều chỉ là vĩ thanh của một thế hệ đã từng góp vào thi đàn hiện đại những cây bút tài danh như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy,...

Cùng lắm, nó chỉ đem đến cho Nguyễn Quang Thiều hai cái lợi (nhất thời): một, yên ổn; hai, theo thời gian, sẽ trở thành “lão làng” và được xếp chỗ trong nhiều tuyển tập khác nhau. Rất may, Nguyễn Quang Thiều không bằng lòng với sự yên ổn ấy.

Và anh chỉ thực sự mang danh một thi sĩ cách tân kể từ Sự mất ngủ của lửa xuất hiện năm 1992  ( Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993). Ngôi nhà mười bảy tuổi (Nxb. Thanh niên, 1990) là một chạm ngõ thi ca của Thiều ở tuổi thơ ngây.

Đó là một tiếng hát trong trẻo nhưng bị cớm bóng, bị lẫn giọng. Song chính trong tập thơ này, đã bắt đầu nảy những mầm lạ. Tôi muốn nói đến bài Lạc nhịp. Về mặt nghệ thuật, Lạc nhịp chưa phải là thi phẩm đặc sắc, nhưng lại hé lộ khẩu khí của một tuyên ngôn:

Thế mà tôi lạc nhịp đi ra
Cánh chim mỏng ngược về nơi chớp giật
Và ngọn gió đón tôi vào đội ngũ
Một nửa tôi hóa bão cuối chân trời.

Chính từ ý thức dám đương đầu với chớp giật, gió bão, dám bứt thoát khỏi dàn đồng ca mà sau đó Nguyễn Quang Thiều hoàn toàn lột xác. Sự mất ngủ của lửa hoàn tất sự lột xác ấy. Đây là tập thơ quan trọng nhất trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Quang Thiều.

(Đón đọc kỳ II)

  • Nguyễn Đăng Điệp
     
;
.
.
.