Bản thân đại đội trưởng Tư Bốn cũng đã 7 lần bị thương trong những trận đánh ác liệt đó. Mỗi lần bị thương đều để lại trên cơ thể ông ít nhiều thương tích, hiện ông là thương binh hạng 2/4. Thế nhưng, có một lần bị thương không chỉ lưu lại thương tích trên cơ thể, mà còn để lại kỷ niệm đẹp nhất trong cuộc đời ông – nhờ bị thương mà ông được vợ, người chị Tư đảm đang, chịu thương chịu khó, gắn bó với ông suốt cả cuộc đời.
Thân thể thiên nhiên mang đầy thương tích
Có một lần, cách đây khoảng 10 năm, người viết bài này đã có dịp về ấp Mỹ Lợi A - xã Long Tiên – huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) thăm khu di tích Căn cứ Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Dù chiến tranh đã đi qua rất lâu, nhưng vết tích chiến tranh vẫn chưa được xóa nhòa, “thân thể thiên nhiên” vẫn còn nhiều thương tích, hậu quả của “mưa bom bão đạn” từng chà đi xát lại vùng đất này.
Nhiều thân cây cổ thụ, cây dừa vẫn còn hằn sâu dấu vết đạn bom; nhiều hố “bom đìa” vẫn chưa được san bằng, người dân sử dụng làm ao nuôi cá, ao chứa nước; một số ngôi nhà xưa vẫn còn vết bom đạn… Căn cứ xã Long Tiên chỉ cách huyện lỵ Cai Lậy hơn 10 cây số đường chim bay, vậy mà trong khi phần lớn tỉnh Mỹ Tho đã bị “bình định trắng”, thì Tỉnh ủy Mỹ Tho vẫn đường hoàng bám địa bàn ở nơi đây trong sự bảo vệ Đại đội Vệ binh, của nhân dân suốt từ năm 1968 đến năm 1974.
Để ghi nhận công lao đóng góp của nhân dân cũng như lưu lại thời kỳ Tỉnh uỷ đã đóng tại đây để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1996 Tỉnh ủy Tiền Giang đã cho xây dựng Bia lưu niệm Căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho thời chống Mỹ trong một khuôn viên rộng hơn 500m2. Bia có hình dáng thanh gươm cao hơn 5 mét hướng thẳng lên trời tượng trưng cho cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Liền kề là lá cờ Đảng đỏ thắm phất phới nằm phía sau thanh gươm, thể hiện nơi Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Trên nền lá cờ có in dòng chữ Bia lưu niệm căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho thời chống Mỹ. Bên dưới lưỡi gươm là mô hình những chiếc hầm lớn, nhỏ nơi che chở cho cán bộ và nhân dân khi địch càn quét. Trên nóc những chiếc hầm ấy có hình 5 vòng tròn tượng trưng cho những thân dừa đã chịu đựng bom đạn, bảo vệ an toàn cho Tỉnh ủy và đồng bào ta.
Phía trước bia là khoảng sân nhỏ được lát gạch, xung quanh có những chậu hoa kiểng với nhiều chủng loại đua nhau khoe sắc. Đêm đến, các trụ đèn trong khuôn viên được bật sáng làm cho khu vực bia lưu niệm thêm sinh động.
Hàng năm, những cán bộ Cách mạng đã từng sống và chiến đấu tại đây đều trở về họp mặt với nhân dân trong ấp, ôn lại những chuyện đã qua, bàn bạc, giúp đỡ người dân trong cuộc sống hiện tại. Trung tướng Nguyễn Việt Thành cũng đã nhiều lần, kể cả khi còn làm việc cũng như lúc đã về nghỉ hưu, về đây thăm viếng khi lưu niệm, bởi vì ông đã từng trải qua những năm tháng dữ dội nhất trong chiến tranh ngay trên vùng đất này.
![]() |
| Trung tướng Tư bốn với cháu nội. |
Hầu hết các cán bộ lãnh đạo ở tỉnh Tiền Giang đều đã từng “thử lửa” ở căn cứ Long Tiên, trong đó có ông Tư Bốn. Nói cho đúng hơn, chính chiến trường Long Tiên – Cai Lậy đã tôi luyện nên 1 cán bộ Tư Bốn kiên cường, mưu trí, dũng cảm, chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù. Ông từng là trung đội trưởng bảo vệ vòng ngoài cùng cho căn cứ Tỉnh ủy, mỗi khi địch càn, các ông đóng vai trò lá chắn đầu tiên, vì vậy mà các ông “đánh nhau như cơm bữa” với lính Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Về sau ông được phong làm đại đội trưởng Đại đội Vệ binh, cơ hội để ông “so găng” với đối phương càng nhiều hơn, có lúc hầu như ngày nào cũng đánh, cứ vài ba bữa mà không thấy đối phương đi càn là các ông thấy “nhớ”. Sau này khi có dịp trò chuyện với ông Tư Bốn, được ông cho xem những thương tích chi chít trên cơ thể mình, tôi chợt liên tưởng đến vùng đất xã Long Tiên bị bom đạn tàn phá xơ xác, cả thiên nhiên và người dân nơi đây đều chịu nhiều thương tích chiến tranh.
Ông Tư Bốn đã tham gia khoảng 200 trận đánh, trong đó có 7 lần bị thương, tỉ lệ là khoảng 1/6, theo những người từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ thì đó là tỉ lệ vừa phải, không cao mà cũng không thấp. Có điều may mắn cho ông Tư Bốn là cả 7 lần bị thương không lần nào mảnh đạn trúng vào đầu hoặc vào những chỗ hiểm có nguy cơ gây tử vong. Vì vậy mà sau này, khi ông Tư Bốn mặc bộ quân phục Công an nhân dân hoặc bộ đồ công chức tươm tất, không ai nhìn thấy dấu vết chiến tranh trên cơ thể của ông.
Nhưng khi về nhà, ông mặc đồ ngắn để chăm sóc khu vườn hoặc tát ao bắt cá, tôi mới thấy hàng chục vết thương tích một thời trên cơ thể vẫn chưa mất vẻ cường tráng của ông. Trên bắp chân là 2 vết sẹo 1 nhỏ, 1 lớn ở 2 bên, hậu quả của 1 phát đạn xuyên chân – khi đạn vào thì nhỏ, nhưng khi ra viên đạn phá 1 lổ thật lớn. Trên bụng ông là 1 vết sẹo vừa của mảnh pháo, nằm kế bên vết mổ rất lớn kéo dài suốt phần bụng, đó là lần ông bị thương thủng bụng, phải chịu “mổ sống” để khâu lại dạ dày, ruột…Trên lưng ông là vết sẹo ngang, hậu quả của 1 phát đạn sượt sát cột sống…
Nhớ mãi 1 lần bị thương…được vợ
Bà Phan Thị Chín – vợ ông Tư Bốn – kể: “Lúc đó giặc càn vô xã Long Tiên liên tục, vì chúng biết chắc căn cứ của Tỉnh ủy Mỹ Tho đang đóng ở đó, đơn vị của anh Tư chống càn triền miên. Nếu có chiến sĩ hi sinh thì bà con lo chôn cất, còn nếu các anh bị thương thì gửi vô nhà dân chữa trị, chỉ những trường hợp rất nặng mới chuyển về Quân y tỉnh ở huyện Châu Thành, đường đi vừa xa vừa nguy hiểm.
Ngày ấy bà con ai cũng biết chút ít kiến thức y tế, có thể tự chữa trị những trường hợp chiến sĩ bị thương không nặng lắm. Khi các anh thương binh được chữa trị lành hẳn thì quay trở lại chiến đấu”. Ngày ấy gia đình bà Chín không tản cư ra ngoài để tránh “mưa bom bão đạn”, mà kiên quyết bám lại địa hình để phục vụ cách mạng, phục vụ các chiến sĩ giải phóng.
Mỗi khi gia đình bà nhận thương binh về chữa trị, bà Chín thường làm nhiệm vụ đi chợ Cai Lậy để mua thuốc men, chủ yếu là thuốc kháng sinh, và bông băng. Lúc ấy đối phương kiểm tra rất gắt gao, khi người dân bị phát hiện mua thuốc kháng sinh hoặc bông băng với số lượng nhiều, người đó có thể bị quy là “tiếp tế cho Việt Cộng” và bị bắt giam, tra khảo. Bà Chín vì vậy phải “thiên biến vạn hóa” để qua mắt đối phương đem thuốc men, bông băng về Long Tiên.
Ở nhà, cũng chính tay cô gái mới ngoài 20 tuổi Phan Thị Chín chùi rửa, thay bằng, tiêm thuốc cho thương binh. Khi thương binh đã phục hồi khá, bà Chín lần theo địa chỉ của anh ta mà đi Bến Tre, Gò Công, Vĩnh Long, Long An…để “móc” gia đình của người thương binh đi thăm người thân của mình. Với những thành tích phục vụ kháng chiến, bà Phan Thị Chín đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng nhì.
Bà Chín nhớ lại, vào giữa năm 1971, sau một trận chống càn giằng co kéo dài, Đại đội Vệ binh bảo vệ Tỉnh ủy Mỹ Tho chuyển đến gia đình bà 1 anh thương binh bị thương vào chân có cái tên rất lạ là Tư Bốn. Người chiến sĩ bị đạn bắn xuyên bắp chân, vết đạn vào rất nhỏ, nhưng khi ra nó phá thành 1 lổ rất lớn. Cũng các bài bản cũ hay làm, bà Chín chùi rửa vết thương, tiêm kháng sinh, băng bó cho người thương binh, còn gia đình bà làm các món bổ dưỡng để người chiến sĩ ăn uống cho mau lại sức.
Dù vết thương khá nặng, mỗi lần chùi rửa phải dùng gạc tẩm cồn kéo xuyên qua bắp chân, nhiều thương binh trong trường hợp tương tự đã kêu la rất dữ vì đau đớn, nhưng anh chiến sĩ Tư Bốn luôn cắn răn chịu đựng, không một tiếng rên la.
Bà Chín tìm hiểu và được biết, đây là người chiến sĩ thuộc loại gan lỳ nhất đơn vị, trước đó đã có 4 lần bị thương, nên chuyện thương tật xảy ra đối với anh đã là “chuyện nhỏ”. Không chỉ bà Chín, mà cả ba mẹ và 4 chị em còn lại trong gia đình bà đều cảm mến người chiến sĩ Tư Bốn. Sau hơn 1 tháng điều trị, trước khi trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu, người chiến sĩ 24 tuổi đời, 9 tuổi quân đã được bác Hai chủ nhà tế nhị hỏi: “Cháu có gia đình chưa?”.
Tất nhiên là chiến sĩ Tư bốn vẫn còn độc thân. Sau đó, cứ mỗi lần chiến đấu chống càn thắng lợi là anh cán bộ đại đội Tư Bốn lại đến thăm gia đình bác Hai để “cáo cáo” mừng công và để cám ơn chuyện nuôi dưỡng ngày trước. Đến cuối năm 1971, cũng sau 1 trận chống càn thắng lợi, anh cán bộ Tư Bốn và cô “y tá nghiệp dư” Phan Thị Chín đã được gia đình và đơn vị thống nhất cho tổ chức lễ cưới vào đúng ngày tết năm 1972.
Vui hạnh phúc không quên nhiệm vụ
Tôi cứ ngỡ ngày ấy “lễ tuyên bố” của ông bà Tư Bốn trong chiến khu rất đơn giản gồm “bánh kẹo, thuốc lá, nước trà” như tôi đã từng nghe về các đám cưới thời chiến. Vì vậy mà tôi rất ngạc nhiên khi bà Tư Bốn cho biết ngày ấy đám cưới của bà thuộc loại “to nhất vùng”, làm đến 3 con heo, đãi mấy trăm khách.
“Chị là người đầu tiên trong nhà lập gia đình, nên ba má chị muốn làm cho tươm tất. Chị cũng nghĩ, thời chiến sống giữa mưa bom bão đạn, sống nay chết mai, nên cứ vui ngày vui cho trọn vẹn, với lại chú rể là anh chiến sĩ nổi tiếng Tư Bốn, nên đám cưới cũng phải làm cho đáng chứ” – bà Chín vừa nói vừa cười với tôi. Bà kể tiếp, ban đầu gia đình bà và đơn vị của chồng dự định làm đám cưới đúng vào dịp Tết, vì theo thông lệ cả 2 phía trong cuộc chiến đều ngấm ngầm với nhau “đình chiến” để ăn Tết, nên làm đám cưới lúc đó không sợ nguy hiểm.
Thế nhưng, ngay trước Tết, đối phương đổ quân đóng đồn ngay ngã ba Long Tiên, chỉ cách nhà bà Chín chưa tới 1 cây số. Ba má bà và đơn vị của ông Tư Bốn chưa hiểu đối phương toan tính chuyện gì, nên tạm thời phải dời ngày cưới lại. Bầy vịt mà cô thôn nữ tên Chín cất công nuôi suốt mấy tháng để làm đám cưới đã phải đem bán ngoài chợ Cai Lậy. Đúng 2 tháng sau, mặc cho đồn bót vẫn án ngữ tại ngả ba Long Tiên, đám cưới của họ vẫn cứ được tổ chức, mà tổ chức thật “hoành tráng”.
Gia đình anh chiến sĩ Tư Bốn từ huyện Chợ Gạo cũng lên căn cứ dự đám cưới đầy đủ, sau khi vượt qua sự kiểm soát ngặt nghèo của đối phương. Bà con lối xóm, họ hàng nhà gái và cả đơn vị Đại đội Vệ binh của ông Tư Bốn đều được mời tới dự lễ cưới. Gia đình nhà trai mang đến mấy vò rượu ngon từ huyện Chợ Gạo, đã làm cho đám cưới càng thêm “mặn nồng”. Không chỉ đãi ăn, đêm trước đám cưới, ông Tư Bốn còn rước được cả Đoàn Văn công tỉnh Mỹ Tho về phục vụ bà con xã Long Tiên, vừa để cho ngày cưới thêm “xôm tụ”.
![]() |
| Vợ chồng ông Tư Bốn vẫn luôn nồng ấm dù tuổi đã già. |
Ngày ấy, lính đồn ngoài ngả ba Long Tiên biết rõ đó là “đám cưới Việt Cộng”, nhưng họ đã không dám động thủ khi biết rằng chú rể là cán bộ đại đội của Đội Vệ binh Tỉnh ủy Mỹ Tho tinh nhuệ, đánh đâu thắng đó. Thế nhưng, chỉ 1 ngày ngày sau, lính “địa phương quân” ngoài quận Cai Lậy lại mở trận càn vào vùng căn cứ Tỉnh ủy, họ đã sững sờ khi chứng kiến những gì còn sót lại của đám cưới trong vùng kháng chiến, nhất là khi họ biết đó là đám cưới của Tư Bốn – người cán bộ của Đại đội vệ binh Tỉnh ủy mà trong giới quân đội Sài Gòn ở quận Cai Lậy đã quá quen tên.
Chỉ sau khi đám cưới một thời gian, ông Tư Bốn lại bị thương do đạn bắn trúng ngang lưng, sượt sát cột sống trong 1 trận chống càn. Người đồng đội cùng tổ chiến đấu với với ông cũng bị thương, nhưng nặng hơn vào phần bùng, ruột lòi ra ngoài. Mặc cho máu chảy ướt đẫm lưng, Tư Bốn nương theo bờ mương vườn dừa, vừa bắn chặn đối phương, vừa tát vội chiếc xuồng cũ bị chìm để chở người đồng đội bị thương nặng thoát khỏi vòng vây.
Cứ sau 1 loạt đạn bắn về phía đối phương, ông đã đẩy người đồng đội đi được cả chục mét. Vừa đẩy xuồng, ông vừa nhét ruột vào bụng người bị thương, rồi lấy khăn quấn lại. Đến khi thoát khỏi khu vực nguy hiểm, ông nhìn lại thì người đồng đội thân thương của mình đã tắt thở tự bao giờ, còn mình thì máu ướt đẩm lưng và quần, toàn lưng tê buốt. Có lẽ vì bị ám ảnh bởi cái chết của người đồng đội bị thương đổ ruột lần ấy, mà sau đó đến lượt mình bị mảnh đạn trúng vào bụng cũng làm đổ ruột ra ngoài tương tự, ông Tư Bốn đã từ chối không để đồng đội chuyển đi, vì “đằng nào cũng chết”, mà nếu chuyển đi chỉ làm nguy hiểm thêm cho anh em.
Thế nhưng, những đồng đội của ông đã không thể bỏ mặc người chỉ huy bị trọng thương lại trận địa, họ đã “cãi lệnh” ông, bắt ông đưa về tuyến sau. Và ông đã không chết, nhưng vết thương vào bụng quá nặng, đơn vị buộc phải đưa ông băng qua vùng địch “tạm chiếm” để về cơ quan Quân y tỉnh đóng ở huyện Châu Thành.
Tại đây, ông đã được chỉ định buộc phải “mổ bụng” để khâu lại dạ dày và ruột bị thủng. “Bàn mổ” là gốc cây vú sữa trải tạm tấm ny lon, xung quanh cũng được che chắn tạm bợ. Sở dĩ phải đặt mổ ông dưới đất, vì gốc cây có nhiều rễ thuận tiện cho việc trói tay chân ông lại trước khi mổ. Phải trói tay chân ông, không phải vì ở Quân y tỉnh lúc đó thiếu thuốc mê, nhưng do cơ địa của Tư Bốn (mà cũng có thể ông bị thương nhiều lần nên đã “lờn” thuốc mê) mà các bác sĩ không thể gây mê cho ông, họ buộc phải “mổ sống”.
Họ trói ông lại để đề phòng ông giãy dụa, la hét…Sự ái ngại của các bác sĩ phẩu thuật đã không xảy ra, người chiến sĩ dù đau đớn đến vã mồ hôi, đến ngây dại bị bị mổ toang khoang bụng, nhưng răng luôn nghiến chặt, không một tiếng rên la, đến khi ca phẩu thuật hoàn tất thì người chiến sĩ cũng ngất đi vì đau đớn và kiệt sức.
Là cán bộ cấp đại đội, Tư Bốn được tiêu chuẩn điều trị khá “cao”, trong đó có cả dịch truyền bằng nước trái dừa hái trực tiếp trên nóc nhà làm lán trại thương binh. Điều kiện y tế thiếu thốn như thế, thương tật nặng nề chừng ấy, nhưng chỉ mấy tháng sau là ông Tư Bốn lại quay về đơn vị để tiếp tục chống càn bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến của tỉnh.
Các con đều là công an hoặc thầy thuốc
Đầu năm 1974, căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho được dời về xã Bình Trưng – huyện Châu Thành. Trước khi lên đường đi xa, anh cán bộ Tư Bốn lâng lâng niềm vui khó tả khi biết chắc rằng đã có một mầm sống mới đang lớn dần trong cơ thể người vợ yêu quý. Sau đó Tư Bốn đã được Tỉnh ủy Mỹ Tho chọn gửi đi học Trường Quân chính Trung ương ở trên R (căn cứ Trung ương Cục miền Nam đóng ở rừng miền Đông Nam bộ) như là cách bồi dưỡng lực lượng cách mạng cho tương lai.
Trước đó, cha và 2 anh của Tư Bốn đã lần lượt ngã xuống trong những trận đánh triền miên trên quê hương Mỹ Tho. Ngay trước ngày ông rời đồng bằng về chiến khu miền Đông, bà Chín vợ ông đã kịp ẳm đứa con chưa tới 2 tháng tuổi vượt đường xa, qua bao hiểm nguy tới thăm và tiễn đưa chồng.
Trong lần gặp nhau ngắn ngủi ấy, ông Tư Bốn đã kịp đặt tên cho đứa con trai đầu lòng là Nguyễn Tấn Hùng, rồi chia tay vợ con với lời hẹn “Gặp lại nhau ngày toàn thắng”. Từ chiến khu miền Đông, khi bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông tư Bốn đã được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó 1 đơn tham gia giải phóng Sài Gòn. Các ông đã đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Trường Huấn luyện Quang Trung, cuối cùng là đánh chiếm và đóng quân lại ở Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn.
Ngày 30.4.1975, như bao người vợ có chồng đi chiến đấu giải phóng đất nước, bà Phan Thị Chín cũng trông chờ hình bóng người chiến sĩ quen thuộc xuất hiện phía đầu xóm. Thế nhưng, một tháng, rồi 2 tháng trôi qua mà người chồng yêu thương vẫn bặt tăm.
Nhiều lúc bà Chín dắt đứa con mới hơn 1 tuổi ra tận ngã ba Long Tiên cả ngày đợi tin chồng, nhưng vùng căn cứ cách mạng này sau tháng 4.1975 có rất nhiều người mặc quân phục giải phóng tìm về thăm, mà không thấy hình bóng chồng bà. Gặp nhiều người quen, bà Chín hỏi thăm, nhưng họ cũng không rõ Tư Bốn đang ở đâu, còn sống hay đã chết.
Có người cho bà Chín biết, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Tư Bốn theo cánh quân từ phía Lộc Ninh đánh về Sài gòn, đã có cuộc đụng độ lớn với “chốt chặn cuối cùng” của quân đội Sài Gòn ở Bến Cát (Bình Dương), cả 2 bên đều có nhiều tổn thất…Dẫu biết rằng đi chinh chiến là chấp nhận hi sinh, nhưng nếu chồng hi sinh trong chiến tranh được báo tử hẳn hoi, thì người vợ còn đở đau đớn. Đằng này đã hòa bình rồi mà nghĩ đến chuyện người chồng yêu thương sẽ mãi mãi không trở về, bà Chín cố gắng gượng để không ngã quỵ.
Đến tháng thứ ba sau ngày miền Nam giải phóng, bà Chín ẳm con đến thẳng Tỉnh ủy Tiền Giang để hỏi thăm tin tức của chồng, nhưng những người lãnh đạo tỉnh cũng không giúp được gì cho bà. Khả năng người chiến sĩ đã hi sinh nằm lại đâu đó trên chiến trường miền Đông càng lúc càng hiện dần trong lòng người cô phụ.
Chợt mấy ngày sau, bà Chín được Tỉnh ủy Tiền Giang gọi lên. Đoạn đường 30 cây số từ Long Tiên đến Mỹ Tho chợt xa dịu vợi, bà Chín vừa muốn cho tới nhanh, lại vừa muốn chậm lại, vì trong đầu bà hiện lên 2 khả năng: hoặc bà sẽ được thông báo chồng bà còn sống và đang ở đâu đó, hoặc bà sẽ được “báo tử”…
Tại Văn phòng Tỉnh ủy Tiền Giang, vừa gặp bà, một cán bộ quen đã mừng rỡ nói ngay: “Tụi tui gặp anh Tư Bốn rồi, ở Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn”. Bà Chín vui mừng mà nước mắt tuôn trào. Người cán bộ kể tiếp: Khi xe của Tỉnh ủy Tiền Giang đi công tác dừng trước Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn cũ, bất ngờ từ trong 1 chiến sĩ chạy nhanh ra và ôm chầm những người trên xe, thì ra đó là Tư Bốn. Tư Bốn nhắn về gia đình vì công việc quá bề bộn sau ngày chiến thắng nên chưa xin phép được về thăm gia đình.
Khoảng 1 tháng sau, khi đang đưa con giấc ngủ trưa, bất ngờ từ đầu xóm mấy đứa em chạy về nói lớn với bà Chín: “Chị Chín ơi, anh Chín về!”. Vậy là sau một năm rưởi chia tay, họ đã sum họp trong cảnh nước nhà thống nhất. Xóm Mỹ Lợi A lại đón người rể quý ngày nào trở về như một người hùng, từ cụ gìa cho tới em bé đều đến nhà bà Chín để nhìn, để sờ vào người chiến sĩ gan dạ lừng danh ngày nào. Chỉ duy có bé Nguyễn Tấn Hùng là không chịu đến gần ông Tư Bốn. Đầu óc tuổi thơ của cậu bé chưa hình dung nỗi vì việc nước mà người cha của cậu phải chấp nhận xa vợ, xa con để đi vào lửa đạn, nay trở về chịu cảnh “người lạ” với con mình.
Một năm sau, bà Chín sinh tiếp cho ông tư Bốn đứa con gái được đặt tên Nguyễn Thị Việt Hồng. Năm 1982 họ có tiếp người con út được đặt tên Nguyễn Tấn Phúc. Đúng theo ý nguyện của vợ chồng ông tư Bốn: con trai lớn lên theo nghiệp cha làm công an, con gái theo sở thích của mẹ làm thầy thuốc, hiện anh Hùng và anh Phúc đang là cán bộ Công an Tiền Giang, còn chị Việt Hồng cùng chồng là bác sĩ 1 bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh.
Song Kỳ
[links()]

