(Phunutoday) - Đối với những ông vua dâm loạn của Trung Quốc thì “xuân dược” được họ coi như một thứ thuốc bổ dùng để uống hằng ngày. Lợi dụng điều này, nhiều đạo sĩ đã dựa vào việc dâng các loại xuân dược bí truyền cho Hoàng đế để được thăng quan tiến chức và hưởng vinh hóa phú quý. Cũng chính vì thế, trong lịch sử hậu cung Trung Quốc đã xảy ra nhiều vụ án “xuân dược” vô cùng tai tiếng và hài hước...
[links()]
1. Trong hậu cung Trung Quốc, “xuân dược” có một lịch sử thuộc loại “lâu đời”. Thời Hán, thứ thuốc “tráng dương, tăng ham muốn và khả năng chăn gối” này có tên là “Thận tuất giao”. Vua Hán Thành Đế Lưu Ngạo vì muốn có một đêm vui vẻ trọn vẹn với mỹ nhân Triệu Hợp Đức, bất chấp lời khuyên mỗi đêm chỉ uống một viên, đã cùng một lúc uống tới bảy viên Thận tuất giao này khiến cơ thể nóng như lửa đốt rồi cuối cùng chết ngay trên giường của người đẹp. Đến thời Ngụy Tấn, có “Ngũ thạch tán”.
Khi Tấn Huệ Đế và các cận thần trần truồng uống rượu vui vẻ với các cung nữ, đã uống loại thuốc “Ngũ thạch tán” này. Đến đời Đường, dựa trên nền tảng là “Ngũ thạch tán”, người ta đã cho thêm một số loại dược phẩm tráng dương, rồi chế ra một loại thuốc khác, đặt tên là “Dương khởi thạch”. Đến thời Minh, họ lại cho thêm ngài tằm đực vào thuốc, gọi là “Chiên thanh kiều”. Trong tác phẩm Kim Bình Mai, loại thuốc mà Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên dùng để phục vụ cho những cuộc vụng trộm của mình chính là loại “Chiên thanh kiều” này.
Đến thời nhà Minh thì xuân dược có thể nói là đã phát triển tới giai đoạn thịnh vượng nhất, trở thành một trợ thủ của những tên quỷ háo sắc, đồng thời cũng là thần chết luôn đe dọa tính mạng của chúng.
Hậu cung triều Minh cũng không ngoại lệ. Để có thể “tận dụng” hết những mỹ nữ bạt ngạt trong hậu cung, các Hoàng đế triều Minh đã treo thưởng hậu hĩnh cho người nào hiến những phương thuốc chế xuân dược bí truyền. Cũng vì vậy, từ thời Hiến Tông, những người vào kinh thành hiến xuân dược ngày càng nhiều. Đào Trọng Văn là một trong số những người như vậy.
Họ Đào vốn chỉ là một tên quan coi kho chẳng mấy ai biết tới, tuy nhiên, nhờ hiến phương thuốc bào chế xuân dược mà được vua Thế Tông nhà Minh sủng ái, một bước lên trời, trở thành nhân vật hiển quý bậc nhất trong triều đình. Theo truyền thuyết còn lưu lại thì phương thuốc bí truyền mà họ Đào hiến cho Thế Tông là loại xuân dược có tên là “Hồng diên hoàn”. Và đây chính là mấu chốt trong vụ án “xuân dược” đầy tai tiếng trong hậu cung nhà Minh.
Theo sử sách ghi chép, phương pháp bào chế loại xuân dược có tên Hồng diên hoàn này cực kỳ quái dị. Nguyên liệu số 1 của Hồng diên hoàn là kinh nguyệt lần đầu của phụ nữ đựng trong những vật dụng bằng kim loại rồi cho thêm sương đêm, ô mai vào, sau đó đem sắc bảy lần.
Tiếp đó, lại cho thêm trầm hương, chu sa, nhựa thông,… rồi luyện bằng lửa, cuối cùng mới cô đặc lại chế thành thuốc viên để dùng. Do thứ “dược liệu” đặc biệt của loại Hồng diên hoàn này, thời Minh Thế Tông đã tổ chức rất nhiều đợt tuyển mỹ nữ khác nhau với độ tuổi chỉ từ 11-16 để lấy nguyên liệu. Sách “Minh thực lục” có chép: Năm Gia Tĩnh thứ 26, tức năm 1547, tuyển 300 thiếu nữ tuổi từ 11-14 vào cung.
Năm Gia Tĩnh thứ 31, tức năm 1552, lại tuyển 300 người. Tháng 9 năm 34, tức năm 1555, tuyển 160 bé gái tuổi dưới 10 tuổi, tháng 11 năm cùng năm lại tuyển thêm 20 thiếu nữ ở vùng Hồ Quảng (Hồ Nam và Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ 43, tức năm 1564, tuyển 300 cung nữ. Như vậy từ năm 1547 cho tới năm 1564, Hoàng đế triều Minh đã chọn vào cung hơn 1.000 thiếu nữ để dùng vào việc bào chế xuân dược.
Sự dâm loạn và tàn độc của vị vua Minh Thế Tông đã dẫn tới một cuộc nổi loạn vào loại “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử Trung Quốc khi những người tham gia cuộc nổi loạn này toàn bộ đều là cung nữ. Những cô gái bị bắt vào cung để lấy “dược liệu” bào chế xuân dược, sau đó lại được dùng để kiểm tra chất lượng của loại thần dược này đã không chịu được sự áp bức của ông chủ hậu cung và quyết định làm loạn.
Dưới sự lãnh đạo của một cung nữ tên là Dương Kim Anh, mười mấy cung nữ cùng lúc xông lên, dùng dây thừng siết vào cổ Hoàng đế Gia Tĩnh, định giết chết ông ta… Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công nhưng cũng khiến vị Hoàng đế hoang dâm vô độ của Minh triều được một phen khiếp vía. Tuy nhiên, thoát được đại nạn không có nghĩa là lần nào cũng gặp may. Chỉ sau 9 năm kể từ khi gặp được thần y, Minh Thế Tông đã chết vì ngộ độc loại Hồng diên hoàn này.
Theo những gì sử sách còn ghi chép lại thì người nối ngôi của Thế Tông là Mục Tông cũng học theo người cha của mình và cũng chết vì loại “thần dược” này. Tuy nhiên, đây chưa phải là “án mạng” cuối cùng trong hậu cung Minh triều liên quan tới xuân dược. Kế thừa thói phong nguyệt từ ông cha, vị thái tử Chu Thường Lạc - con vua Thần Tông và là cháu của Mục Tông - chưa kịp lên ngôi thì đã chết một cách oan uổng vì xuân dược. Sử sách gọi đây là “vụ án Hồng diên hoàn” nổi tiếng.
2. Vào một đêm tháng 5 năm Vạn Lịch thứ 43, một người đàn ông tên là Trương Sai xông vào cung Từ Khánh của Thái tử Chu Thường Lạc, gặp ai là đánh người đó, người hầu và cung nữ đều bị đánh cho trọng thương. Mục đích của Trương Sai đương nhiên là muốn giết Thái tử. Thái tử Chu Thường Lạc vốn là con của cung phi, vì vậy, theo luật định lập trưởng không lập thứ của xã hội phong kiến thì Chu Thường Lạc sẽ được phong làm Thái tử. Tuy nhiên, Minh Thần Tông lại sủng ái Trịnh Quý phi, vì vậy muốn phong cho con trai do Trịnh thị sinh ra là Chu Thường Tuần làm Thái tử.
Thế nhưng, ý định của Thần Tông bị các triều thần phản đối một cách kịch liệt, cuộc tranh cãi kéo dài tới hơn 10 năm. Mãi tới khi Chu Thường Lạc đã ngoài 20, tới tuổi kết hôn, Thần Tông mới miễn cưỡng lập Thường Lạc làm Thái tử.
Vì vậy, sau vụ việc Trương Sai xông vào cung Thái tử Thường Lạc định giết chết ông vua tương lai của triều Minh, người ta mới nghĩ tới Trịnh Quý phi. Điều tra sâu hơn một chút, quả nhiên sự việc ồn ào nói trên là do hai thái giám tổng quản của Trịnh Quý phi là Bàng Bảo và Lưu Thành sắp đặt. Các đại thần trong triều biết tin, vô cùng giận dữ, đòi Thần Tông phải truy sát bằng được hung thủ đứng phía sau sự việc. Trịnh Quý phi biết chuyện, lập tức đến chỗ Thần Tông khóc lóc.
Thần Tông nói: “Sự việc đã đến nước này, e là khó mà giải quyết được. Chỉ có cách là Thái tử trực tiếp ra mặt thì may ra. Tuy nhiên, nàng phải tự đi và cầu xin nó mới được”. Trịnh Quý phi không còn cách nào khác, đành phải đi gặp Chu Thường Lạc. Chu Thường Lạc yếu đuối, vì vậy thấy Trịnh Quý phi đến cầu xin, cũng không muốn truy cứu sự việc nữa. Để thông báo chính thức cho các đại thần về kết quả của cuộc hòa giải, Thần Tông đã phá lệ, triệu tập các quan tới cung Thái tử.
Trong suốt 25 năm trước đó, Thần Tông không hề thiết triều, vì vậy tuyệt đại đa số các đại thần trong triều không biết mặt Hoàng đế ra sao. Lần triệu kiến hy hữu tại cung Thái tử này cũng đủ cho thấy Thần Tông coi trọng sự việc hòa giải này ra sao.
Trước mặt tất cả triều thần, Thần Tông nói: “Cha con ta vô cùng thân thiết, vì sao các người cứ tìm cách chia rẽ mối quan hệ của chúng ta?” - nói rồi cầm tay của Chu Thường Lạc - “Đứa con này rất hiếu thuận, ta rất yêu, làm sao có thể thay Thái tử được? Nếu như ta muốn thay Thái tử thì ta đã thay từ lâu rồi. Nay đến các cháu của ta cũng đã lớn cả rồi, các người đừng nói những chuyện nhảm nhí ấy nữa”.
Tiếp lời Thần Tông, Thái tử Chu Thường Lạc cũng nói: “Cha con ta rất thân thiết, còn các ngươi thì cứ bàn tán này nọ. Điều đó không chỉ là sự bất trung của các ngươi mà còn đẩy ta vào chỗ bất hiếu. Việc này là không thể chấp nhận được”. Lúc đó, Thần Tông mới hỏi rằng triều thần có ý kiến gì không, các đại thần chỉ còn biết im lặng là vàng.
Khi ấy, có một quan Giám sát Ngự sử tên là Lưu Quang Phục vừa mở miệng định nói, chưa biết nói gì thì đã bị Thần Tông quát: “Lôi xuống!”. Ngay lập tức, bọn thái giám đã xông vào, lôi họ Lưu xuống, đánh cho một trận tơi bời. Các đại thần còn lại thêm một phen hết hồn, chỉ còn biết đứng như trời trồng trước cung Thái tử.
Phá vỡ không khí im lặng, Thái tử Chu Thường Lạc nói: “Việc của Trương Sai là việc của Trương Sai, sẽ không liên quan tới ai khác”. Lúc này, không ai còn dám kiến nghị bẩm báo gì nữa, im lặng rút lui. Ngày hôm sau, Trương Sai bị giết. Hơn 10 ngày sau, Trịnh Quý phi âm thầm xử chết hai tên thái giám tổng quản đã sắp đặt chuyện Trương Sai giết người diệt khẩu. Vụ án tấn công cung Thái tử cuối cùng đã chấm dứt, tuy nhiên, nó lại chỉ là màn mở đầu của một vụ án lớn hơn.
Tới thời điểm lúc bấy giờ, Trịnh Quý phi mới biết rõ một điều rằng, giấc mơ phế bỏ ngôi Thái tử đã tan thành bong bóng, Chu Thường Lạc chắc chắn sẽ trở thành Hoàng đế tương lai. Vì vậy, Trịnh Quý phi quyết định thay đổi chiến lược, mượn cớ cảm ơn để hùa theo, nịnh bợ Thường Lạc, ngoại trừ việc liên tục tặng những đồ quý giá, tiền vàng, còn tự mình tuyển chọn 8 mỹ nữ dâng tặng cho Thường Lạc.
Thái tử Thường Lạc thể chất vốn đã yếu, giờ một lúc lại được tới 8 mỹ nữ vây quanh nên khó tránh được sự thay đổi trong nếp sống thường nhật. Cũng vì 8 mỹ nữ này mà cho tới năm 1620, khi Thần Tông qua đời, cơ thể của Thường Lạc cũng đã rệu rã không kém gì người cha vừa mới trút hơi thở của mình. Miễn cưỡng lắm, Chu Thường Lạc mới có thể hoàn thành đại lễ đăng cơ. Rồi chỉ có thể xử lý việc triều chính được hơn 10 ngày, Chu Thường Lạc đã nằm liệt giường, không thể dậy nổi.
Đêm hôm đó, Ngô Tán - một trong số 8 mỹ nữ do Trịnh Quý phi dâng tặng - như thường lệ, tới hầu hạ Hoàng đế. Chu Thường Lạc uống một viên Hồng diên hoàn vào, bỗng nhiên trở nên hấp tấp, vội vàng như kẻ cuồng. Mặc dù, Ngô Tán đã phải cầu khẩn: “Hoàng thượng, hãy bình tĩnh”, thế nhưng Chu Thường Lạc thì vẫn hưng phấn lạ thường, còn cười như kẻ khùng không dứt. Thấy dáng vẻ không bình thường của Hoàng đế, sáng ngày hôm sau, Ngô Tán đã phải đi tìm ngự y.
Khi đó, Viện thái y do Thôi Văn Thăng trực ban, nghe thấy Hoàng đế bỗng nhiên hưng phấn lạ thường, giống như phát cuồng, không biết rằng đó là do âm hư thận kiệt mà lại cho rằng là do nóng bên trong, vì vậy cầm bút kê cho Ngô Tán một loạt các thuốc giải nhiệt, nhuận tràng. Không ngờ, uống loại thuốc này vào, Hoàng đế lập tức bị tả, một ngày tới mấy chục lần.
Một đại thần trong triều là Dương Liên Lập dâng sớ, chỉ trích Thôi Văn Thăng dùng sai thuốc khiến Hoàng đế lâm bệnh. Thôi Văn Thăng lập tức dâng sớ lại tự biện minh, nói bệnh của Hoàng đế là do dùng quá nhiều Hồng diên hoàn, vì vậy buộc phải để bài tiết ra ngoài chứ không thể cho thuốc bổ được nữa.
Các thành viên đảng Đông Lâm lập tức ào ạt công kích Thôi Văn Thăng, nói rằng, ông đã dùng thuốc sai, khiến bệnh của thánh thượng nặng thêm, lại còn cả gan tiết lộ cả chuyện Hồng diên hoàn, hủy hoại thanh danh của Hoàng đế. Sau đó, bệnh của Chu Thường Lạc ngày một nặng, nên không thể không cho gọi các đại thần và Thái tử tới để sắp xếp chuyện hậu sự. Lúc này, đột nhiên Hoàng đế mở mắt hỏi rất rõ ràng: “Nghe nói ở Hồng Lư tự có người tới dâng thuốc, hắn giờ ở đâu?”.
Đại thần Phương Dĩ Triết bước ra đáp: “Lý Khả Chước ở Hồng Lư tự nói hắn có thuốc tiên chữa được bệnh của thánh thượng nhưng thần vẫn chưa dám vội tin”. Tuy nhiên, khi đó, vị Hoàng đế biết mình không còn sống được bao lâu nữa nên muốn thử loại thuốc tiên này xem có thể kéo dài tuổi họ hay không, vì vậy đã phái người truyền chỉ Lý Khả Chước lập tức phải dâng thuốc ngay.
Thuốc mà Lý Khả Chước dâng lên là một loại thuốc viên màu đỏ. Đây lại là Hồng diên hoàn hay là một loại thuốc màu hồng khác? Các đại thần không ai biết thế nào, chỉ đành nhìn nhau. Chỉ thấy sau khi thái giám cho Hoàng đế uống viên thuốc màu hồng này vào thì nhịp thở của ngài bắt đầu đều trở lại. Mọi người ai cũng thở ra một hơi nhẹ nhõm. Đến Hoàng đế cũng liên miệng khen Lý Khả Chước là trung thần và truyền lệnh ban thưởng thật hậu hĩnh.
Đêm hôm đó, khi các quan đại thần túc trực ở bên ngoài tịch cung của Hoàng đế thì bỗng nhiên một thái giám vội vàng chạy tới, truyền chỉ Lý Khả Chước dâng thêm một viên thuốc nữa. Sau khi uống viên thuốc thứ hai, ban đầu, hơi thở của Hoàng đế có vẻ bình phục.
Phương Dĩ Triết theo ý chỉ của Hoàng đế truyền lệnh thưởng cho Lý Khả Chước 50 lạng bạc. Chỉ dụ vừa truyền đi thì đột nhiên Hoàng đế hét lớn, hai tay ôm ngực, hai mắt trợn ngược, giãy đạp liên hồi, một lát sau thì tắt thở. Hai viên thuốc tiên màu đỏ cuối cùng đã tạo thành bi kịch cho triều đình nhà Minh. Chu Thường Lạc vẫn chưa kịp xác định niên hiệu cho thời kỳ trị vì của mình, mới lên ngôi được 30 ngày thì đã chết, trở thành một trong những ông vua có thời gian ngồi trên ngai vàng ngắn nhất lịch sử Trung Quốc.
3. Hai viên thuốc màu đỏ đã giết chết Hoàng đế ngay lập tức tạo thành một cơn phong ba trong triều đình Đại Minh. Hai viên thuốc màu đỏ đó rốt cuộc là thuốc gì? Lý Khả Chước không phải là ngự y, làm sao dám dâng thuốc cho Hoàng đế trong tình trạng “thập tử nhất sinh” như vậy? Ai là người đã chỉ thị việc này? Việc phế lập Thái tử từ 5 năm trước đó một lần nữa lại được khơi lại.
Có người cho rằng, thứ thuốc mà Lý Khả Chước dâng cho Chu Thường Lạc thực chất là Hồng diên hoàn, một loại “xuân dược” thông thường. Những loại xuân dược được dùng từ trước tới nay hầu hết đều là loại thuốc có tính chất nóng, có tác dụng tráng dương, kích thích. Hoàng đế bị tả, khí âm hàn nặng nên dùng cái nóng của hỏa để trị cái lạnh của nước cũng coi là một cách xử lý hợp lý.
Ngoài ra, các ông vua triều Minh đại đa số đều là những ông vua háo sắc, rất nhiều người coi xuân dược như một thứ thuốc bổ hằng ngày, vì vậy cơ thể đều bị suy nhược đến cùng cực. Lý Khả Chước không phải là không biết điều này, chẳng qua là ông ta không gặp may mà thôi.
Tuy nhiên cũng có người cho rằng, thuốc viên màu đỏ này là một loại thuốc thủy ngân của Đạo giáo. Màu sắc của thuốc có thể cho thấy loại thuốc này được luyện từ thủy ngân. Thời đại nhà Minh, các Hoàng đế đều mong được trường sinh bất lão nên hầu như ai cũng tin vào các đạo sĩ. Thời kỳ Minh Hiến Tông, những người được phong là Chân nhân, Pháp sư, Pháp vương, Thiền sư, Quốc sư, tăng nhân đạo sĩ có tới hơn 1.000 người.
Vua Thế Tông hơn 20 năm không thiết triều cũng chỉ vì việc luyện đan cầu thuốc tiên. Các đạo sĩ thường dùng loại thuốc thủy ngân này để chữa cho những người gặp bệnh nguy kịch. Nếu như chẳng may chết thì nói là bệnh quá nặng, còn nếu như may mắn sống sót thì lợi cả đôi đường. Tâm thái của Lý Khả Chước cũng y như vậy.
Cũng có người cho rằng, dùng xuân dược cho người đang hấp hối uống là một việc chưa ai làm. Lý Khả Chước cũng không phải kẻ khùng, y biết rất rõ bệnh nhân không phải là người thường mà là Hoàng đế, làm sao dám làm loạn được? Huống hồ Chu Thường Lạc vốn đã lạm dụng xuân dược để thỏa mãn sắc dục từ lâu, làm tổn hại đến cơ thể, điều ông ta cần là dứt bỏ sắc dục, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, làm sao có thể uống thêm loại thuốc tráng dương, kích thích này được? Rõ ràng, Lý Khả Chước bị người ta lợi dụng nên mới dùng loại thuốc này khiến Hoàng đế chết nhanh hơn. Tội này không còn là tội dùng sai thuốc nữa mà đã là tội mưu sát Hoàng đế. “Vụ án Hồng diên hoàn” trở thành một vụ kỳ án kim cổ cũng vì kết luận cuối cùng này.
Thực tế, Thôi Văn Thăng - người kê đơn thuốc khiến bệnh tả của Hoàng đế bị nặng hơn - chính là thuộc hạ của Trịnh Quý phi. Lý Khả Chước lại là do Phương Dĩ Triết tiến cử Lý Khả Chước với Hoàng đế, vì vậy phái bảo vệ Chu Thường Lạc cho rằng, Thôi và Lý đều mắc tội âm mưu giết Hoàng đế, phải xử tội chết, đồng thời phải truy cứu tới người đứng sau toàn bộ sự việc, ở đây chính là Trịnh Quý phi.
Phương Dĩ Triết bị các đại thần trong triều gây áp lực, không còn cách nào khác, đành phải dâng sớ xin từ chức, những mong nhờ việc này mà thoát khỏi cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, những lời chỉ trích vẫn liên tục tìm tới với đại thần họ Phương này. Thậm chí, Tôn Thận Hành còn dâng sơ nói: “Thần nghĩ Dĩ Triết không có ý mưu sát, nhưng có tội mưu sát”. Sau khi bị các đại thần chỉ trích, Phương Dĩ Triết cũng dâng sớ biện minh, đồng thời tự xin hạ chức hoặc điều chuyển tới một vùng biên viễn nào đó.
Vào thời điểm này, trong triều đình cũng có nhiều người đứng ra bảo vệ Phương Dĩ Triết, tuy nhiên sự việc vẫn có vẻ như chưa muốn kết thúc. Cuối cùng, một đại thần tên là Hàn Quảng dâng sớ, mô tả chi tiết cảnh dâng thuốc và đề nghị xử lý Lý Khả Chước, Thôi Văn Thăng mới có thể dẹp yên được dị nghị trong triều đình.
Hàn Quảng là người thật thà, đồng thời cũng không a dua với đại thần Phương Dĩ Triết, vì vậy mà bản sớ của ông ta mới giúp dẹp yên dư luận. Cuối cùng, Lý Khả Chước bị lưu đày còn Thôi Văn Thăng bị an trí ở Nam Kinh. “Vụ án Hồng diên hoàn” tai tiếng dưới triều đại nhà Minh kết thúc.
Cầm Bùi
[links()]
1. Trong hậu cung Trung Quốc, “xuân dược” có một lịch sử thuộc loại “lâu đời”. Thời Hán, thứ thuốc “tráng dương, tăng ham muốn và khả năng chăn gối” này có tên là “Thận tuất giao”. Vua Hán Thành Đế Lưu Ngạo vì muốn có một đêm vui vẻ trọn vẹn với mỹ nhân Triệu Hợp Đức, bất chấp lời khuyên mỗi đêm chỉ uống một viên, đã cùng một lúc uống tới bảy viên Thận tuất giao này khiến cơ thể nóng như lửa đốt rồi cuối cùng chết ngay trên giường của người đẹp. Đến thời Ngụy Tấn, có “Ngũ thạch tán”.
Khi Tấn Huệ Đế và các cận thần trần truồng uống rượu vui vẻ với các cung nữ, đã uống loại thuốc “Ngũ thạch tán” này. Đến đời Đường, dựa trên nền tảng là “Ngũ thạch tán”, người ta đã cho thêm một số loại dược phẩm tráng dương, rồi chế ra một loại thuốc khác, đặt tên là “Dương khởi thạch”. Đến thời Minh, họ lại cho thêm ngài tằm đực vào thuốc, gọi là “Chiên thanh kiều”. Trong tác phẩm Kim Bình Mai, loại thuốc mà Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên dùng để phục vụ cho những cuộc vụng trộm của mình chính là loại “Chiên thanh kiều” này.
Đến thời nhà Minh thì xuân dược có thể nói là đã phát triển tới giai đoạn thịnh vượng nhất, trở thành một trợ thủ của những tên quỷ háo sắc, đồng thời cũng là thần chết luôn đe dọa tính mạng của chúng.
Hậu cung triều Minh cũng không ngoại lệ. Để có thể “tận dụng” hết những mỹ nữ bạt ngạt trong hậu cung, các Hoàng đế triều Minh đã treo thưởng hậu hĩnh cho người nào hiến những phương thuốc chế xuân dược bí truyền. Cũng vì vậy, từ thời Hiến Tông, những người vào kinh thành hiến xuân dược ngày càng nhiều. Đào Trọng Văn là một trong số những người như vậy.
Họ Đào vốn chỉ là một tên quan coi kho chẳng mấy ai biết tới, tuy nhiên, nhờ hiến phương thuốc bào chế xuân dược mà được vua Thế Tông nhà Minh sủng ái, một bước lên trời, trở thành nhân vật hiển quý bậc nhất trong triều đình. Theo truyền thuyết còn lưu lại thì phương thuốc bí truyền mà họ Đào hiến cho Thế Tông là loại xuân dược có tên là “Hồng diên hoàn”. Và đây chính là mấu chốt trong vụ án “xuân dược” đầy tai tiếng trong hậu cung nhà Minh.
Theo sử sách ghi chép, phương pháp bào chế loại xuân dược có tên Hồng diên hoàn này cực kỳ quái dị. Nguyên liệu số 1 của Hồng diên hoàn là kinh nguyệt lần đầu của phụ nữ đựng trong những vật dụng bằng kim loại rồi cho thêm sương đêm, ô mai vào, sau đó đem sắc bảy lần.
Tiếp đó, lại cho thêm trầm hương, chu sa, nhựa thông,… rồi luyện bằng lửa, cuối cùng mới cô đặc lại chế thành thuốc viên để dùng. Do thứ “dược liệu” đặc biệt của loại Hồng diên hoàn này, thời Minh Thế Tông đã tổ chức rất nhiều đợt tuyển mỹ nữ khác nhau với độ tuổi chỉ từ 11-16 để lấy nguyên liệu. Sách “Minh thực lục” có chép: Năm Gia Tĩnh thứ 26, tức năm 1547, tuyển 300 thiếu nữ tuổi từ 11-14 vào cung.
Năm Gia Tĩnh thứ 31, tức năm 1552, lại tuyển 300 người. Tháng 9 năm 34, tức năm 1555, tuyển 160 bé gái tuổi dưới 10 tuổi, tháng 11 năm cùng năm lại tuyển thêm 20 thiếu nữ ở vùng Hồ Quảng (Hồ Nam và Hồ Bắc của Trung Quốc ngày nay). Tháng giêng năm Gia Tĩnh thứ 43, tức năm 1564, tuyển 300 cung nữ. Như vậy từ năm 1547 cho tới năm 1564, Hoàng đế triều Minh đã chọn vào cung hơn 1.000 thiếu nữ để dùng vào việc bào chế xuân dược.
Sự dâm loạn và tàn độc của vị vua Minh Thế Tông đã dẫn tới một cuộc nổi loạn vào loại “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử Trung Quốc khi những người tham gia cuộc nổi loạn này toàn bộ đều là cung nữ. Những cô gái bị bắt vào cung để lấy “dược liệu” bào chế xuân dược, sau đó lại được dùng để kiểm tra chất lượng của loại thần dược này đã không chịu được sự áp bức của ông chủ hậu cung và quyết định làm loạn.
![]() |
| Hoàng đế Minh Thế Tông sử dụng xuân dược nhưng chỉ thọ 59 tuổi. |
Dưới sự lãnh đạo của một cung nữ tên là Dương Kim Anh, mười mấy cung nữ cùng lúc xông lên, dùng dây thừng siết vào cổ Hoàng đế Gia Tĩnh, định giết chết ông ta… Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công nhưng cũng khiến vị Hoàng đế hoang dâm vô độ của Minh triều được một phen khiếp vía. Tuy nhiên, thoát được đại nạn không có nghĩa là lần nào cũng gặp may. Chỉ sau 9 năm kể từ khi gặp được thần y, Minh Thế Tông đã chết vì ngộ độc loại Hồng diên hoàn này.
Theo những gì sử sách còn ghi chép lại thì người nối ngôi của Thế Tông là Mục Tông cũng học theo người cha của mình và cũng chết vì loại “thần dược” này. Tuy nhiên, đây chưa phải là “án mạng” cuối cùng trong hậu cung Minh triều liên quan tới xuân dược. Kế thừa thói phong nguyệt từ ông cha, vị thái tử Chu Thường Lạc - con vua Thần Tông và là cháu của Mục Tông - chưa kịp lên ngôi thì đã chết một cách oan uổng vì xuân dược. Sử sách gọi đây là “vụ án Hồng diên hoàn” nổi tiếng.
2. Vào một đêm tháng 5 năm Vạn Lịch thứ 43, một người đàn ông tên là Trương Sai xông vào cung Từ Khánh của Thái tử Chu Thường Lạc, gặp ai là đánh người đó, người hầu và cung nữ đều bị đánh cho trọng thương. Mục đích của Trương Sai đương nhiên là muốn giết Thái tử. Thái tử Chu Thường Lạc vốn là con của cung phi, vì vậy, theo luật định lập trưởng không lập thứ của xã hội phong kiến thì Chu Thường Lạc sẽ được phong làm Thái tử. Tuy nhiên, Minh Thần Tông lại sủng ái Trịnh Quý phi, vì vậy muốn phong cho con trai do Trịnh thị sinh ra là Chu Thường Tuần làm Thái tử.
Thế nhưng, ý định của Thần Tông bị các triều thần phản đối một cách kịch liệt, cuộc tranh cãi kéo dài tới hơn 10 năm. Mãi tới khi Chu Thường Lạc đã ngoài 20, tới tuổi kết hôn, Thần Tông mới miễn cưỡng lập Thường Lạc làm Thái tử.
Vì vậy, sau vụ việc Trương Sai xông vào cung Thái tử Thường Lạc định giết chết ông vua tương lai của triều Minh, người ta mới nghĩ tới Trịnh Quý phi. Điều tra sâu hơn một chút, quả nhiên sự việc ồn ào nói trên là do hai thái giám tổng quản của Trịnh Quý phi là Bàng Bảo và Lưu Thành sắp đặt. Các đại thần trong triều biết tin, vô cùng giận dữ, đòi Thần Tông phải truy sát bằng được hung thủ đứng phía sau sự việc. Trịnh Quý phi biết chuyện, lập tức đến chỗ Thần Tông khóc lóc.
Thần Tông nói: “Sự việc đã đến nước này, e là khó mà giải quyết được. Chỉ có cách là Thái tử trực tiếp ra mặt thì may ra. Tuy nhiên, nàng phải tự đi và cầu xin nó mới được”. Trịnh Quý phi không còn cách nào khác, đành phải đi gặp Chu Thường Lạc. Chu Thường Lạc yếu đuối, vì vậy thấy Trịnh Quý phi đến cầu xin, cũng không muốn truy cứu sự việc nữa. Để thông báo chính thức cho các đại thần về kết quả của cuộc hòa giải, Thần Tông đã phá lệ, triệu tập các quan tới cung Thái tử.
Trong suốt 25 năm trước đó, Thần Tông không hề thiết triều, vì vậy tuyệt đại đa số các đại thần trong triều không biết mặt Hoàng đế ra sao. Lần triệu kiến hy hữu tại cung Thái tử này cũng đủ cho thấy Thần Tông coi trọng sự việc hòa giải này ra sao.
Trước mặt tất cả triều thần, Thần Tông nói: “Cha con ta vô cùng thân thiết, vì sao các người cứ tìm cách chia rẽ mối quan hệ của chúng ta?” - nói rồi cầm tay của Chu Thường Lạc - “Đứa con này rất hiếu thuận, ta rất yêu, làm sao có thể thay Thái tử được? Nếu như ta muốn thay Thái tử thì ta đã thay từ lâu rồi. Nay đến các cháu của ta cũng đã lớn cả rồi, các người đừng nói những chuyện nhảm nhí ấy nữa”.
Tiếp lời Thần Tông, Thái tử Chu Thường Lạc cũng nói: “Cha con ta rất thân thiết, còn các ngươi thì cứ bàn tán này nọ. Điều đó không chỉ là sự bất trung của các ngươi mà còn đẩy ta vào chỗ bất hiếu. Việc này là không thể chấp nhận được”. Lúc đó, Thần Tông mới hỏi rằng triều thần có ý kiến gì không, các đại thần chỉ còn biết im lặng là vàng.
Khi ấy, có một quan Giám sát Ngự sử tên là Lưu Quang Phục vừa mở miệng định nói, chưa biết nói gì thì đã bị Thần Tông quát: “Lôi xuống!”. Ngay lập tức, bọn thái giám đã xông vào, lôi họ Lưu xuống, đánh cho một trận tơi bời. Các đại thần còn lại thêm một phen hết hồn, chỉ còn biết đứng như trời trồng trước cung Thái tử.
Phá vỡ không khí im lặng, Thái tử Chu Thường Lạc nói: “Việc của Trương Sai là việc của Trương Sai, sẽ không liên quan tới ai khác”. Lúc này, không ai còn dám kiến nghị bẩm báo gì nữa, im lặng rút lui. Ngày hôm sau, Trương Sai bị giết. Hơn 10 ngày sau, Trịnh Quý phi âm thầm xử chết hai tên thái giám tổng quản đã sắp đặt chuyện Trương Sai giết người diệt khẩu. Vụ án tấn công cung Thái tử cuối cùng đã chấm dứt, tuy nhiên, nó lại chỉ là màn mở đầu của một vụ án lớn hơn.
Tới thời điểm lúc bấy giờ, Trịnh Quý phi mới biết rõ một điều rằng, giấc mơ phế bỏ ngôi Thái tử đã tan thành bong bóng, Chu Thường Lạc chắc chắn sẽ trở thành Hoàng đế tương lai. Vì vậy, Trịnh Quý phi quyết định thay đổi chiến lược, mượn cớ cảm ơn để hùa theo, nịnh bợ Thường Lạc, ngoại trừ việc liên tục tặng những đồ quý giá, tiền vàng, còn tự mình tuyển chọn 8 mỹ nữ dâng tặng cho Thường Lạc.
Thái tử Thường Lạc thể chất vốn đã yếu, giờ một lúc lại được tới 8 mỹ nữ vây quanh nên khó tránh được sự thay đổi trong nếp sống thường nhật. Cũng vì 8 mỹ nữ này mà cho tới năm 1620, khi Thần Tông qua đời, cơ thể của Thường Lạc cũng đã rệu rã không kém gì người cha vừa mới trút hơi thở của mình. Miễn cưỡng lắm, Chu Thường Lạc mới có thể hoàn thành đại lễ đăng cơ. Rồi chỉ có thể xử lý việc triều chính được hơn 10 ngày, Chu Thường Lạc đã nằm liệt giường, không thể dậy nổi.
Đêm hôm đó, Ngô Tán - một trong số 8 mỹ nữ do Trịnh Quý phi dâng tặng - như thường lệ, tới hầu hạ Hoàng đế. Chu Thường Lạc uống một viên Hồng diên hoàn vào, bỗng nhiên trở nên hấp tấp, vội vàng như kẻ cuồng. Mặc dù, Ngô Tán đã phải cầu khẩn: “Hoàng thượng, hãy bình tĩnh”, thế nhưng Chu Thường Lạc thì vẫn hưng phấn lạ thường, còn cười như kẻ khùng không dứt. Thấy dáng vẻ không bình thường của Hoàng đế, sáng ngày hôm sau, Ngô Tán đã phải đi tìm ngự y.
Khi đó, Viện thái y do Thôi Văn Thăng trực ban, nghe thấy Hoàng đế bỗng nhiên hưng phấn lạ thường, giống như phát cuồng, không biết rằng đó là do âm hư thận kiệt mà lại cho rằng là do nóng bên trong, vì vậy cầm bút kê cho Ngô Tán một loạt các thuốc giải nhiệt, nhuận tràng. Không ngờ, uống loại thuốc này vào, Hoàng đế lập tức bị tả, một ngày tới mấy chục lần.
Một đại thần trong triều là Dương Liên Lập dâng sớ, chỉ trích Thôi Văn Thăng dùng sai thuốc khiến Hoàng đế lâm bệnh. Thôi Văn Thăng lập tức dâng sớ lại tự biện minh, nói bệnh của Hoàng đế là do dùng quá nhiều Hồng diên hoàn, vì vậy buộc phải để bài tiết ra ngoài chứ không thể cho thuốc bổ được nữa.
Các thành viên đảng Đông Lâm lập tức ào ạt công kích Thôi Văn Thăng, nói rằng, ông đã dùng thuốc sai, khiến bệnh của thánh thượng nặng thêm, lại còn cả gan tiết lộ cả chuyện Hồng diên hoàn, hủy hoại thanh danh của Hoàng đế. Sau đó, bệnh của Chu Thường Lạc ngày một nặng, nên không thể không cho gọi các đại thần và Thái tử tới để sắp xếp chuyện hậu sự. Lúc này, đột nhiên Hoàng đế mở mắt hỏi rất rõ ràng: “Nghe nói ở Hồng Lư tự có người tới dâng thuốc, hắn giờ ở đâu?”.
Đại thần Phương Dĩ Triết bước ra đáp: “Lý Khả Chước ở Hồng Lư tự nói hắn có thuốc tiên chữa được bệnh của thánh thượng nhưng thần vẫn chưa dám vội tin”. Tuy nhiên, khi đó, vị Hoàng đế biết mình không còn sống được bao lâu nữa nên muốn thử loại thuốc tiên này xem có thể kéo dài tuổi họ hay không, vì vậy đã phái người truyền chỉ Lý Khả Chước lập tức phải dâng thuốc ngay.
Thuốc mà Lý Khả Chước dâng lên là một loại thuốc viên màu đỏ. Đây lại là Hồng diên hoàn hay là một loại thuốc màu hồng khác? Các đại thần không ai biết thế nào, chỉ đành nhìn nhau. Chỉ thấy sau khi thái giám cho Hoàng đế uống viên thuốc màu hồng này vào thì nhịp thở của ngài bắt đầu đều trở lại. Mọi người ai cũng thở ra một hơi nhẹ nhõm. Đến Hoàng đế cũng liên miệng khen Lý Khả Chước là trung thần và truyền lệnh ban thưởng thật hậu hĩnh.
Đêm hôm đó, khi các quan đại thần túc trực ở bên ngoài tịch cung của Hoàng đế thì bỗng nhiên một thái giám vội vàng chạy tới, truyền chỉ Lý Khả Chước dâng thêm một viên thuốc nữa. Sau khi uống viên thuốc thứ hai, ban đầu, hơi thở của Hoàng đế có vẻ bình phục.
Phương Dĩ Triết theo ý chỉ của Hoàng đế truyền lệnh thưởng cho Lý Khả Chước 50 lạng bạc. Chỉ dụ vừa truyền đi thì đột nhiên Hoàng đế hét lớn, hai tay ôm ngực, hai mắt trợn ngược, giãy đạp liên hồi, một lát sau thì tắt thở. Hai viên thuốc tiên màu đỏ cuối cùng đã tạo thành bi kịch cho triều đình nhà Minh. Chu Thường Lạc vẫn chưa kịp xác định niên hiệu cho thời kỳ trị vì của mình, mới lên ngôi được 30 ngày thì đã chết, trở thành một trong những ông vua có thời gian ngồi trên ngai vàng ngắn nhất lịch sử Trung Quốc.
3. Hai viên thuốc màu đỏ đã giết chết Hoàng đế ngay lập tức tạo thành một cơn phong ba trong triều đình Đại Minh. Hai viên thuốc màu đỏ đó rốt cuộc là thuốc gì? Lý Khả Chước không phải là ngự y, làm sao dám dâng thuốc cho Hoàng đế trong tình trạng “thập tử nhất sinh” như vậy? Ai là người đã chỉ thị việc này? Việc phế lập Thái tử từ 5 năm trước đó một lần nữa lại được khơi lại.
Có người cho rằng, thứ thuốc mà Lý Khả Chước dâng cho Chu Thường Lạc thực chất là Hồng diên hoàn, một loại “xuân dược” thông thường. Những loại xuân dược được dùng từ trước tới nay hầu hết đều là loại thuốc có tính chất nóng, có tác dụng tráng dương, kích thích. Hoàng đế bị tả, khí âm hàn nặng nên dùng cái nóng của hỏa để trị cái lạnh của nước cũng coi là một cách xử lý hợp lý.
Ngoài ra, các ông vua triều Minh đại đa số đều là những ông vua háo sắc, rất nhiều người coi xuân dược như một thứ thuốc bổ hằng ngày, vì vậy cơ thể đều bị suy nhược đến cùng cực. Lý Khả Chước không phải là không biết điều này, chẳng qua là ông ta không gặp may mà thôi.
Tuy nhiên cũng có người cho rằng, thuốc viên màu đỏ này là một loại thuốc thủy ngân của Đạo giáo. Màu sắc của thuốc có thể cho thấy loại thuốc này được luyện từ thủy ngân. Thời đại nhà Minh, các Hoàng đế đều mong được trường sinh bất lão nên hầu như ai cũng tin vào các đạo sĩ. Thời kỳ Minh Hiến Tông, những người được phong là Chân nhân, Pháp sư, Pháp vương, Thiền sư, Quốc sư, tăng nhân đạo sĩ có tới hơn 1.000 người.
Vua Thế Tông hơn 20 năm không thiết triều cũng chỉ vì việc luyện đan cầu thuốc tiên. Các đạo sĩ thường dùng loại thuốc thủy ngân này để chữa cho những người gặp bệnh nguy kịch. Nếu như chẳng may chết thì nói là bệnh quá nặng, còn nếu như may mắn sống sót thì lợi cả đôi đường. Tâm thái của Lý Khả Chước cũng y như vậy.
Cũng có người cho rằng, dùng xuân dược cho người đang hấp hối uống là một việc chưa ai làm. Lý Khả Chước cũng không phải kẻ khùng, y biết rất rõ bệnh nhân không phải là người thường mà là Hoàng đế, làm sao dám làm loạn được? Huống hồ Chu Thường Lạc vốn đã lạm dụng xuân dược để thỏa mãn sắc dục từ lâu, làm tổn hại đến cơ thể, điều ông ta cần là dứt bỏ sắc dục, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, làm sao có thể uống thêm loại thuốc tráng dương, kích thích này được? Rõ ràng, Lý Khả Chước bị người ta lợi dụng nên mới dùng loại thuốc này khiến Hoàng đế chết nhanh hơn. Tội này không còn là tội dùng sai thuốc nữa mà đã là tội mưu sát Hoàng đế. “Vụ án Hồng diên hoàn” trở thành một vụ kỳ án kim cổ cũng vì kết luận cuối cùng này.
Thực tế, Thôi Văn Thăng - người kê đơn thuốc khiến bệnh tả của Hoàng đế bị nặng hơn - chính là thuộc hạ của Trịnh Quý phi. Lý Khả Chước lại là do Phương Dĩ Triết tiến cử Lý Khả Chước với Hoàng đế, vì vậy phái bảo vệ Chu Thường Lạc cho rằng, Thôi và Lý đều mắc tội âm mưu giết Hoàng đế, phải xử tội chết, đồng thời phải truy cứu tới người đứng sau toàn bộ sự việc, ở đây chính là Trịnh Quý phi.
Phương Dĩ Triết bị các đại thần trong triều gây áp lực, không còn cách nào khác, đành phải dâng sớ xin từ chức, những mong nhờ việc này mà thoát khỏi cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, những lời chỉ trích vẫn liên tục tìm tới với đại thần họ Phương này. Thậm chí, Tôn Thận Hành còn dâng sơ nói: “Thần nghĩ Dĩ Triết không có ý mưu sát, nhưng có tội mưu sát”. Sau khi bị các đại thần chỉ trích, Phương Dĩ Triết cũng dâng sớ biện minh, đồng thời tự xin hạ chức hoặc điều chuyển tới một vùng biên viễn nào đó.
Vào thời điểm này, trong triều đình cũng có nhiều người đứng ra bảo vệ Phương Dĩ Triết, tuy nhiên sự việc vẫn có vẻ như chưa muốn kết thúc. Cuối cùng, một đại thần tên là Hàn Quảng dâng sớ, mô tả chi tiết cảnh dâng thuốc và đề nghị xử lý Lý Khả Chước, Thôi Văn Thăng mới có thể dẹp yên được dị nghị trong triều đình.
Hàn Quảng là người thật thà, đồng thời cũng không a dua với đại thần Phương Dĩ Triết, vì vậy mà bản sớ của ông ta mới giúp dẹp yên dư luận. Cuối cùng, Lý Khả Chước bị lưu đày còn Thôi Văn Thăng bị an trí ở Nam Kinh. “Vụ án Hồng diên hoàn” tai tiếng dưới triều đại nhà Minh kết thúc.
Cầm Bùi
