Vợ của chí sỹ Lương Ngọc Quyến bà Nguyễn Thị Hồng Đính - là người phụ nữ có tư tưởng cách tân và hết lòng phụng sự đất nước, một lòng sắt son cùng chồng. 60 năm ngày mất bà Nguyễn Thị Hồng Đính, Phunutoday xin giới thiệu đôi nét về cuộc đời và câu chuyện tình yêu cảm động của họ.
[links()]
Bạn đường. Bạn đời. Đồng chí
Lương Ngọc Quyến hiệu là Lập Nham, sinh năm 1885 tại Hà Nội trong một gia đình khoa cử khá giả tại làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Thuở nhỏ, Ngọc Quyến dùi mài kinh sử, miệt mài với chồng sách cũ, giũa vần gọt chữ để mong có ngày tranh khôi đoạt giáp cùng các bạn. Khóa thi Hương năm Canh Tý (1900), vừa tròn 15 tuổi, anh hăm hở lều chõng lên đường.
Nhưng bị hỏng vì bài phú, anh tỉnh ngộ, nhận ra lối học khoa cử từ chương là hủ bại. Chính nó đã làm cho dân mình hèn, nước mình mất.
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Hồng Đính sinh năm 1886, tại làng Động Trung, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. |
Rồi anh tìm đọc sách tân học của Trung Quốc, rất tâm đắc với tư tưởng Duy Tân cách mạng của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, anh sớm nhận ra thanh niên Việt Nam phải mau học tập binh cơ võ bị tân thời mới mong đánh đuổi được kẻ thù, giành lại quyền tự do, độc lập cho đất nước.
Năm 1905, vừa tròn 20 tuổi, Lập Nham quả quyết từ bỏ cuộc sống sang giàu chốn Hà thành, bái biệt cha mẹ, lên đường sang Nhật Bản theo tiếng gọi của phong trào Duy Tân của Phan Bội Châu.
Thời gian đầu ở Đông Kinh, Lập Nham một mặt học Nhật ngữ để sửa soạn vào trường võ bị Chấn Vũ, một mặt viết thơ về động viên các đồng chí gửi người sang du học. Trong vòng 2 năm đã có trăm học sinh ta được gửi sang học các trường ở Nhật do các nhà hảo tâm trong nước tài trợ.
Nhưng rồi một hiệp định được ký giữa Nhật và Pháp yêu cầu Nhật phải trục xuất những người Việt ra khỏi đất Nhật trong vòng 48 tiếng.
Sau 5 năm theo học trường Chấn Vũ (1906-1911) Lương Ngọc Quyến thi tốt nghiệp đậu thủ khoa, sau đó anh xin vào học tiếp ở trường sỹ quan lục quân nhưng không được Bộ Tham mưu Nhật chấp thuận, nên anh đã rời Nhật về Trung Quốc xin vào học trường Lục quân Trắc Hội.
Tại đây anh đã được gia đình bố trí cho gặp người đồng chí là nữ giới từ Việt Nam sang và người đó sau này là vợ anh - Nguyễn Thị Hồng Đính.
Nguyễn Thị Hồng Đính sinh năm 1886 tại làng Động Trung, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Cô vốn là người thông minh, lanh lợi và cứng cỏi như con trai.
Là con của một gia đình có truyền thống Nho học nên ngay từ nhỏ, cô đã được theo học chữ Hán rồi lớn lên học chữ quốc ngữ. Ngoài học chữ, từ nhỏ Hồng Đính đã được cho học cầm, kỳ, thi, họa và ở lĩnh vực nào, cô cũng thể hiện năng khiếu bẩm sinh của mình.
Vì được đọc sách và sớm tiếp xúc với các phong trào yêu nước do ông, cha và anh tổ chức nên Hồng Đính rất khâm phục những người chí sĩ yêu nước, dám đứng lên chống lại giặc ngoại xâm và những tư tưởng lỗi thời, lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Hồng Đính là một trong những người đi đầu trong việc thực hiện cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn, để răng trắng, một việc làm mà xã hội phong kiến đương thời coi là không thể dung nạp.
Không chỉ tiếp thu sự giáo dục về gia giáo, gia phong, Hồng Đính còn được học thuộc lòng các bài Gia Huấn Ca, mang nội dung giáo dục về đức hạnh của người phụ nữ mới và tinh thần yêu nước.
Lớn lên trong bối cảnh các phong trào yêu nước đang phát triển mạnh mẽ ở Thái Bình, Nguyễn Thị Hồng Đính đã háo hức nuôi ý định xuất dương theo tiếng gọi của phong trào Đông Du.
![]() |
| Lương Ngọc Quyến hiệu là Lập Nham, sinh năm 1885 tại Hà Nội trong một gia đình khoa cử khá giả tại làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). |
Nhận thấy được niềm mơ ước và khát khao của con gái, Nguyễn Hữu Cương đã có sự ưng thuận cho con được thỏa chí hướng mà giúp ích cho nước, nhưng vì sợ là phận gái lại đang thời buổi loạn lạc chưa biết tính sao, thì lúc ấy cụ Cử Lương Văn Can sau nhiều lần đến tọa đàm với Nguyễn Hữu Cương cũng đã nhìn thấy được ý chí của người con gái bé nhỏ ấy, cụ bèn ngỏ ý muốn hỏi Hồng Đính cho Lương Ngọc Quyến và đã được gia đình Nguyễn Hữu Cương ưng thuận.
Đầu năm 1911, sau khi tốt nghiệp trường quân sự Chấn Vũ ở Đông Kinh (Nhật Bản), Lương Ngọc Quyến bị trục xuất ra khỏi Nhật do sự ký kết của Nhật - Pháp. Ông về Trung Quốc học tại trường Lục quân Trắc Hội.
Thời gian này, cụ Cử Lương Văn Can đã tìm cách thu xếp để ông Nguyễn Công Riệu là anh trai của Nguyễn Thị Hồng Đính đi cùng Hồng Đính ra Móng Cái, rồi từ Móng Cái sang Đông Hưng (Trung Quốc) gặp Lương Ngọc Quyến.
Tại đây hai người đã chính thức có cơ hội được gặp gỡ và nói chuyện với nhau nhiều hơn. Trước đó, qua lời giới thiệu của bố và anh trai cũng như những người hoạt động trong Đông Kinh Nghĩa Thục tại Thái Bình, Hồng Đính cũng đã được nghe nhiều đến cái tên Lương Ngọc Quyến.
Hơn nữa cô lại là người sớm có tư tưởng xuất dương theo phong trào Duy Tân hòng tìm kiếm con đường thoát khỏi những hủ tục ràng buộc đã lỗi thời của xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Vì thế, việc bỏ nhà ra đi theo tiếng gọi của phong trào Duy Tân mà Lương Ngọc Quyến đã làm trước đây khiến Hồng Đính rất khâm phục, cô đã tự nhủ: sau này nếu có lấy chồng phải lấy được người có tư tưởng canh tân như thế.
Còn Lương Ngọc Quyến cũng được gia đình nói nhiều đến Nguyễn Thị Hồng Đính, dù là phận nữ nhi nhưng cô không chịu cúi đầu răm rắp tuân theo những lề thói cũ, con gái chỉ biết lo việc nhà chứ không biết đến chuyện học hành, lại càng không dám phá bỏ những lề thói ấy.
Nhưng những việc làm của Hồng Đính từ việc cắt tóc ngắn, đến đọc những cuốn sách mang tư tưởng tiến bộ đã làm Ngọc Quyến thấy ưng thuận và nhanh chóng chấp nhận sự sắp đặt của gia đình.
Vì thế. Cuối năm 1911, hôn lễ của Lương Ngọc Quyến và Nguyễn Thị Hồng Đính đã được tổ chức tại Đông Hưng - Trung Quốc. Bắt đầu từ đây, Hồng Đính ở lại Trung Quốc và cùng chồng hoạt động.
Năm 1912, Nguyễn Thị Hồng Đính sinh người con trai đầu lòng là Lương Dân Nguyên. Cũng trong năm này, Lương Ngọc Quyến được Việt Nam Quang Phục Hội cử về nước vận động tài chính cho Hội.
Bà Đính ở lại Trung Quốc vừa nuôi con nhỏ vừa làm một trong những trung tâm liên lạc của các nhà yêu nước hoạt động trên đất Trung Quốc và từ trong nước sang. Sang năm 1913, bà sinh người con thứ hai là Lương Tấn Khải.
Trong suốt thời gian sống ở Trung Quốc bà đã cùng chồng rong ruổi khắp nơi trên con đường hoạt động yêu nước: từ Đông Hưng, Thượng Hải đến Hương Cảng, Hàng Châu, Ngô Lĩnh,…
Đến đâu, bà cũng luôn là người bạn đường, người bạn đời, người đồng chí tâm huyết và rất tin cậy của Lương Ngọc Quyến.
Chính vì vậy, với cương vị là Ủy viên trong Bộ chấp hành của Việt Nam Quang Phục Hội, khi thì phụ trách quân sự, lúc lại công việc tài chính cho Hội, Lương Ngọc Quyến đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Năm 1913, sau sự kiện ném tạc đạn vào Hà Nội - Hotel, thực dân Pháp tiến hành vây ráp khủng bố, chúng bắt hàng trăm người trong đó có 7 người bị án chém, 9 người bị án chung thân, 56 người bị kết án khổ sai và biệt xứ từ 10-15 năm. Cụ Cử Lương Văn Can bị biệt xứ 10 năm sang Nam Vang - Cao Miên (Campuchia ngày nay).
Vợ thay chồng báo ân, báo hiếu
Năm sau, Lương Ngọc Quyến về nước để bàn bạc về kế hoạch chống Pháp, được tin cha bị bắt lưu đày biệt xứ, Ngọc Quyến đã sang Nam Vang để thăm cha. Nhưng vừa tới Nam Vang thì ông nhận được mật báo hành tung bại lộ và thực dân Pháp đang truy lùng ông ráo riết.
Lương Ngọc Quyến đã lên đường quay về Hương Cảng, nhưng tại đây ông đã bị mật thám Anh bắt và bàn giao lại cho Pháp giải về nước. Chúng giam ông tại nhà pha Hỏa Lò - Hà Nội, rồi giải lên Cao Bằng, ra tòa án binh, rồi xuống đề lao Sơn Tây, ngục Phú Thọ, cho nếm mùi cực hình.
Chúng vừa dụ dỗ vừa tra khảo nhưng vô hiệu, ông nhất quyết không khai ra các đồng chí và hoạt động của tổ chức.
Không tìm được bằng chứng cụ thể, chúng hành hạ để ông chết dần chết mòn, ngày đêm bị cùm xích ác nghiệt, bàn chân ông bị dùi thủng để xuyên sợi xích qua thay vì xích cổ chân. Chúng lại giải ông về Hỏa Lò - Hà Nội cho tù cầm cố.
Tại đây, trước tình cảnh éo le khi hoài bão chưa thành, hơn nữa gia đình lại lâm vào cảnh khó khăn:
Vợ phải một thân một mình nuôi hai con nhỏ, trong bụng lại tiếp tục mang thai đứa thứ ba, Ngọc Quyến đã viết một bài thơ nhờ người chuyển giúp cho vợ để an ủi và động viên người bạn trăm năm, người đồng chí của mình hãy kiên trung, vững tin vào một ngày mai tươi sáng của đất nước và thay chồng nuôi con báo hiếu.
Ngay khi nhận được thư chồng biết chồng đã bị bắt tù đày và khó lòng được tha, Hồng Đính đã hết sức đau xót.
Thương chồng, nhớ chồng và xót cho các con sớm phải mồ côi cha, nhất là đứa con út còn chưa chào đời, Nguyễn Thị Hồng Đính đã phải nén nỗi đau nghe theo lời dặn của chồng bồng bế lén đưa con về Nam Kỳ rồi từ đó sang Nam Vang để thay chồng phụng dưỡng cha chồng.
Tại Nam Vang, Hồng Đính đã cùng bố chồng mở các cửa hiệu: Hưng Thạnh, Nam Gia, Đại Thanh,… để buôn bán các thứ từ Việt Nam sang.
Việc mở các cửa hiệu tại Nam Vang không chỉ giúp gia đình có thu nhập để sống mà đây còn là địa điểm liên lạc của các nhà yêu nước. Cũng tại hiệu Hưng Thạnh do bà Hồng Đính đứng chủ, bà đã tổ chức nhiều hoạt động để giúp đỡ cho cách mạng.
Bà đã giúp cụ Nguyễn Sinh Huy (cụ thân sinh của Bác Hồ) mở lớp dạy chữ Hán và dùng nơi đây để cất giấu các sách báo tiến bộ cũng như là nơi đàm đạo của cụ với những người yêu nước.
Bà còn đứng ra tập hợp công nhân và kiều bào ở Nam Vang tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh, đòi thả Phan Bội Châu,… Sau này, khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, hiệu Hưng Thạnh của bà là địa điểm quan trọng để in và rải truyền đơn cũng như là nơi che giấu các chiến sĩ cộng sản.
Không những thế, số tiền mà bà kiếm được từ việc buôn bán, ngoài chăm sóc cho cha chồng và các con, bà dành phần lớn số tiền đó chu cấp cho cách mạng và chăm sóc tù nhân Côn Đảo.
Chồng mất từ khi mới ngoài 30 tuổi, nhưng bà vẫn thủ tiết thờ chồng, gắng sức làm tròn bổn phận của một người vợ, người mẹ, người con dâu hiếu thảo và hơn hết là làm tròn nhiệm vụ đã được giao của người đồng chí.
Bà đã âm thầm thay chồng làm nhiệm vụ với cách mạng đến hơi thở cuối cùng. Cho đến khi mất, bài thơ cùng với những kỉ niệm của chồng luôn được bà cất giữ cẩn thận, bà mất năm 1952 tại quê hương Thái Bình.
Sau này, vì cảm phục trước tình yêu thủy chung, son sắc của bà và những đóng góp của bà với gia đình chồng, con cháu và gia đình chồng đã cho xây một ngôi mộ của bà bên cạnh mộ của ông để hai người mãi được ở bên nhau.
- Nguyễn Thị Hải

