Mua bán xe máy cũ phải có xác nhận độc thân: Dân than rắc rối, Sở Tư pháp nói gì?

( PHUNUTODAY ) - Thời gian gần đây, dân cư mạng bày tỏ nhiều ý kiến trái chiều trước việc người dân khi làm thủ tục mua bán xe máy cũ tại các phòng công chứng, yêu cầu phải có xác nhận độc thân.

Báo Thanh Niên hôm 8/12/2020 có bài phản ảnh, đưa tin về việc người dân TP.HCM than "bị hành" khi làm thủ tục mua bán xe máy cũ tại các phòng công chứng, được yêu cầu phải có xác nhận độc thân hoặc cả vợ chồng cùng ký tên, dù giá trị chiếc xe cũ chỉ vài ba triệu đồng, gây chú ý dư luận.

Đúng thủ tục và cần thiết

Liên quan đến vấn đề này, Sở Tư pháp TP.HCM cho biết, đã có nhiều trường hợp người đứng tên trên giấy đăng ký xe làm hợp đồng mua bán mà không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu riêng đối với tài sản của bên bán. Những trường hợp này đã bị đoàn thanh tra của Bộ Tư pháp lập biên bản vi phạm hành chính, theo quy định của Nghị định 110/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP.

Để tránh những trường hợp tương tự, đồng thời căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Sở Tư pháp TP.HCM đã yêu cầu các trưởng tổ chức hành nghê công chứng/công chứng viên thực hiện đúng quy định pháp luật trong việc công chứng hợp đồng mua bán xe. Theo hướng dẫn của Sở Tư pháp TP.HCM, hợp đồng mua bán xe máy đã qua sử dụng đều phải có giấy chứng nhận độc thân hoặc phải có sự đồng ý của vợ, chồng.

ban_xe_cu1

Thông tin trên báo Người lao động, luật sư Võ Đan Mạch (Đoàn Luật sư TP.HCM), việc mua bán xe máy cũ là một giao dịch dân sự giữa người bán và người mua. Để một giao dịch dân sự có hiệu lực, cần đáp ứng điều kiện về mặt hình thức và nội dung.

Về hình thức, để được làm thủ tục đăng ký xe và được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe, theo quy định tại Thông tư 58/2020/TT-BCA của Bộ Công an, giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.

Về mặt nội dung, để giao dịch dân sự có hiệu lực, chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định tại điều 117 Bộ Luật Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Một trong những việc cần phải chứng minh là người bán xe có phải là chủ sở hữu hợp pháp của xe hay không, có quyền định đoạt tài sản này hay không, đây có phải là tài sản riêng của người bán hay là tài sản chung của vợ chồng. Quy định nêu trên góp phần bảo vệ các bên đối với tài sản chung của vợ chồng.

Điều này thể hiện bằng việc cả hai người phải cùng ký kết vào hợp đồng mua bán tại văn phòng công chứng, trường hợp một bên đại diện thực hiện giao dịch thì phải có giấy ủy quyền theo điều 24 Luật Hôn nhân - Gia đình và các quy định khác trong Bộ Luật Dân sự.

Trường hợp cho rằng đây là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người bán phải có giấy tờ chứng minh. Quy định nêu trên sẽ tránh được các tranh chấp phát sinh sau khi ký kết hợp đồng mua bán xe, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ và chồng.

Vẫn còn điều bất cập...

Song, điều bất cập ở quy định này là đối với các tài sản có giá trị thấp, cả người bán và người mua sẽ cảm thấy thủ tục rắc rối, không cần thiết.

Đặc biệt, những trường hợp vợ chồng không ở cùng nhau hoặc người bán ở xa quê không thể xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được thì sẽ diễn ra tình trạng mua bán xe bằng hợp đồng miệng hoặc hợp đồng tay, không thông qua tổ chức công chứng và không tiến hành thủ tục đăng ký xe theo quy định. Từ đó xảy ra tình trạng xe không chính chủ, gây khó khăn trong việc quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.