Vì sao Diệm, Nhu phải chết (Kỳ 8)

11:51, Thứ sáu 24/06/2011

( PHUNUTODAY ) - Thành phần đảng viên là các tín đồ Công giáo, một số công chức và sĩ quan trung cao cấp, đại địa chủ và giới tư sản. Người xin gia nhập phải tuyên thệ#160; trung thành đến chết#160; với ”lãnh tụ” Ngô Đình Diệm và Đảng trưởng Ngô đình Nhu.

mal" font-size:10.0pt; font-family:arial;color:black">(Phunutoday) - Trên cơ sở lực  lượng của nhóm nghiên cứu xã hội có tên  Tinh thần Năm 1953, Ngô Đình Nhu đã cho ra đời Công nông Chánh Đảng. Đầu năm 1954, Đảng này đổi tên thành Cần lao Nhân vị Cách mạng. Thành phần đảng viên là các tín đồ Công giáo, một số công chức và sĩ quan trung cao cấp, đại địa chủ và giới tư sản. Người xin gia nhập phải tuyên thệ  trung thành đến chết  với ”lãnh tụ” Ngô Đình Diệm và Đảng trưởng Ngô đình Nhu.


[links()]
 Đảng có danh nghĩa công khai, nhưng tổ chức hoạt động thì bí mật. Hầu như ở tất cả các cơ quan quan trọng của Chính phủ, quân đội, công an đều có đảng viên làm nòng cốt. Ngô Đình Nhu tự nhận mình là cha đẻ của học thuyết nhân vị- nền  tảng tư tưởng của Đảng Cần lao Nhân vị. Thật ra, đó là sự ăn cắp bản quyền. Cha đẻ của thuyết nhân vị là triết gia Pháp  E.Mounier. Ngô Đình Nhu chỉ sao chép lại rồi cải biên cho phù hợp với tình hình cai trị của chính quyền Diệm.

Đảng Cần lao Nhân vị, mật vụ và độc tài

Đảng Cần lao của Ngô Đình Nhu có 35.000 đảng viên. Đó là lữ đoàn mật vụ không hưởng lương. Ông ta tổ chức đảng viên theo từng tổ. Mỗi tổ có từ 5 đến 25 đảng viên, sinh hoạt ngay tại cơ quan làm việc. Lực lượng tai mắt này là một tổ chức nửa dân sự, nửa quân sự do đích thân Ngô Đình Nhu chỉ huy. Lực lượng cảnh sát mật còn chịu sự quản lý và điều động của chính quyền địa phương nhưng lực lượng Cần lao thì nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống chính quyền từ trung ương xuống cơ sở.

 Trung ương đảng (mà Nhu làm lãnh tụ tối cao) là cấp chỉ huy duy nhất của lực lượng Cần lao. Do được hưởng đặc quyền, lực lượng “mật vụ không lương” này cậy quyền ỷ thế giết người, bắt cóc, tống tiền vô tội vạ. Ghét ai, chúng vu cho cái tội làm Cộng sản để bắt cóc, bí mật thủ tiêu mà không cần chứng cứ. Tất cả các tỉnh trưởng, quận trưởng, đều sợ cán bộ Cần lao.

Ngô Đình Cẩn thì cho rằng, làm mật vụ (ám chỉ lực lượng tình báo chuyên nghiệp) thì cần gì lý này, thuyết nọ cho rắc rối. Để chứng minh, năm 1955 Ngô Đình Cẩn khởi xướng tổ chức “phong trào cách mạng quốc gia”. Tổ chức này kết nạp mọi thành phần từ trí thức đến bần cố nông, từ lãnh đạo chính quyền đến kẻ thất cơ lỡ vận. Hệ thống tổ chức cũng giống như Cần lao. Có nghĩa là phân cấp từ Trung ương đến cơ sở quần chúng. 

Nhiệm vụ của đám “phong trào không hưởng lương” là hoạt động bí mật. Bí mật theo dõi, bí mật bắt cóc, bí mật giam cầm và thủ tiêu. Ngoài ra, chúng còn tổ chức tuyên truyền, vận động kết nạp thành viên mới. Ai được mời đến họp đều nhận được mẫu đơn xin gia nhập đánh máy sẵn.

 Ai từ chối là bị nghi ngờ ủng hộ Cộng sản hoặc chống đối chính quyền, bị đưa về Chín Hầm an trí. Cách kết nạp thành viên kiểu như thế, không bao lâu tổng số đoàn viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia từ con số 10.000 thành viên năm 1955 lên đến 2 triệu thành viên năm 1960.

Thấy số đoàn viên quá đông đảo, Cẩn tổ chức phân hạng : Thanh niên, thanh nữ, thiếu niên, thiếu nữ, phụ lão. Các đoàn thể thanh niên này chỉ sinh hoạt một thời gian ngắn để thăm dò lòng trung thành rồi được chuyển sang đoàn Thanh niên Cộng Hòa, Thanh nữ Cộng Hòa của bà Trần Lệ Xuân, với đồng phục màu xanh nước biển. 

Ngoài lực lượng Thanh niên, Thanh nữ Cộng hòa, bà Trần Lệ Xuân còn lập Phong Trào Phụ nữ Liên đới. Trong phong trào Phụ nữ Liên đới, bà tuyển chọn lực lượng Thanh nữ bán quân sự. Lực lượng Thanh nữ bán quân sự được trang bị vũ khí như lính chiến, được huấn luyện tác chiến. Thanh nữ bán quân sự là một tiểu ban có quân số đông nhất của Phong Trào Phụ nữ Liên đới

Chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới chính là bà Lệ Xuân, còn các ủy viên trung ương hầu hết là phu nhân của các bộ trưởng, tướng tá, lãnh đạo các cơ quan. Chủ tịch phong trào Phụ nữ Liên đới ở các tỉnh phải là vợ của tỉnh trưởng hoặc phó tỉnh trưởng. 

Trong phong trào Phụ nữ Liên đới có các ủy viên phụ trách các ngành chính quyền như: Ủy viên Tư pháp, Ủy viên Gia đình binh sĩ, Ủy viên Y tế; Ủy viên Xã hội; Ủy viên Thanh nữ bán quân sự. 

Tuy không hưởng lương từ Dinh Tổng thống, nhưng Ngô Đình Nhu giữ đến 5 nhiệm vụ: Dân biểu Quốc hội, Cố vấn chính trị của Tổng thống, Thủ lĩnh Thanh niên Cộng hòa, Tổng Bí thư đảng Cần lao Nhân vị và năm 1963 còn giữ thêm chức Chủ tịch Ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược.

Ông Nhu không có chức vụ nào trong chính phủ, nhưng lại là người nắm giữ và chỉ huy các đầu mối tình báo, mật vụ của chế độ. Sau khi ổn định ghế tổng thống, Ngô Đình Diệm không phân quyền cho tư pháp và quốc hội mà giao hết vào tay Nhu. Trong Quốc Hội thì ông Nhu và một số số người thân tín giữ các chức vụ chủ chốt. Ông ta chính là phần hồn của chế độ Việt Nam Cộng hòa đệ nhất, còn Diệm chỉ là cái xác.

Cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần lao Nhân vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Ban đầu không gọi tên đảng là Cần lao mà gọi là đảng Công Nông.  Sau mới đổi thành Cần Lao. Ông Nhu thêm vào hai từ Nhân vị. 

 

mal" font-size:10.0pt; font-family:arial;color:black">Ông Trần Quốc Bửu - Chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Còn ông Huỳnh Hữu Nghĩa là một tín đồ Cao Đài, cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa là cánh tay ngoài của Nhu. 

Văn phòng Tổng Bí thư đảng Cần lao cũng do một mình thiếu tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm. Uỷ viên Trung ương đảng gồm có các ông Trần Trung Dung, Lý Trung Dung, Hà Đức Minh, Trần Quốc Bửu, Võ Như Nguyện, Lê Văn Đồng. 

Tư tưởng chính của đảng Cần lao là thuyết Nhân vị được cho là do Ngô Đình Nhu sáng tạo. Nhưng hầu hết các học giả đều cho rằng, đó là một thứ chắp vá tư tưởng hổn độn, pha trộn từ chủ nghĩa Nhân vị của Mounier, thuyết Nhân ái của Khổng Tử, giáo lý Thiên Chúa giáo, thêm vài nét của Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Duy linh. 

Đầu năm 1956, ông Nhu cho khai trương “Trung tâm Nhân vị” ở giáo phận Vĩnh Long. Giảng viên là các vị … linh mục Công giáo. Hầu hết công chức, quân nhân đều phải đến đây tham dự lớp học Nhân vị. Tuy gọi là học “nhân vị” nhưng người ta cứ nghe các giảng viên linh mục rao giảng về giáo lý Thiên chúa. Sau này, một nhánh của Đảng này tách ra gọi là “Đảng Cần lao Công giáo”. 

Ban đầu, Ngô Đình Nhu bám lấy thuyết Duy linh của Kitô giáo làm chủ đạo cho thuyết Nhân vị. Hình thức tổ chức thì Nhu bám vào phương thức của lực lượng truyền giáo Pháp. Nhưng lực lượng nòng cốt của Nhu lại là lực lượng liên đoàn lao công của Công giáo. Sau này, khi Diệm vững vàng thế chính trị, Ngô Đình Nhu mở rộng thành phần đảng viên và nó trở thành công cụ mật vụ cho Nhu. 

Thời ấy, khi người dân đối diện với một đảng viên Cần lao là hiểu đang đối diện với một kẻ có quyền bắt cóc, thủ tiêu phi luật pháp. Nhân danh Cần lao, nhiều đảng viên đã trả thù ân oán cá nhân vô tôi vạ.

Dựa vào cái thuyết Nhân vị hỗn tạp ấy, Nhu nặn óc ra cái gọi là “Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa” vào năm 1956 để củng cố quyền lực thống trị. Sau khi dạo đầu một mớ từ ngữ mơ hồ trong thuyết Nhân vị, ông Nhu đưa vào hiến pháp những quyền tối thượng của tổng thống. Theo đó, tổng thổng đứng trên cả quốc hội.

Ấp chiến lược

Ngày 29-4-1961, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đã đề ra một chiến sách mới tại Việt Nam. Đó là “Kế hoạch chống nổi dậy”. Mỹ đã cử nhiều phái đoàn nghiên cứu sang Việt Nam. Trong đó có phái đoàn do Phó tổng thống Mỹ Johnson dẫn đầu vào tháng 5/1961.

 Sau đó còn có các phái đoàn: Tiến sĩ Staley thuộc Viện nghiên cứu Stanford, phái đoàn của Taylor và Rosow trong Bộ Quốc phòng Mỹ sang vào tháng 10/1961. Từ báo cáo của những chuyến nghiên cứu đó, Mỹ đề ra một kế hoạch mang tên Staley - Taylor ra đời. 

Kế họach nầy có tham vọng thôn tín hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 là bình định miền Nam bằng biện pháp “Ấp chiến lược”, thực hiện từ giữa năm 1961. Giai đoạn 2 thực hiện từ đầu năm 1963, khôi phục kinh tế, tăng cường lực lượng quân đội, hoàn thành công cuộc bình định. Giai đoạn 3 thực hiện đến cuối năm 1965, phát triển kinh tế, ổn định miền Nam và kết thúc chiến tranh.

Giai đoạn 1 “Quốc sách Ấp chiến lược” của kế hoạch Staley - Taylor được cho là có ý nghĩa quyết định nhất được Ngô Đình Diệm ký lệnh thành lập Ủy ban Trung ương Đặc trách ấp chiến lược vào ngày 3/2/1962. Ngô Đình Nhu là Chủ tịch của cái ủy ban này.

Theo kế hoạch, Diệm sẽ xây dựng 17.000 ấp chiến lược, thu gom, dồn ép 10 triệu nông dân vào trong vòng 18 tháng. Một cuộc chiến đẫm máu giữa người nông dân lương thiện ở miền Nam với chính quyền Diệm bắt đầu. Hàng triệu người dân mất đất, mất ruộng vườn. Hàng ngàn người dân bị giết vì không chịu vào ấp chiến lược. Những gia đình quyết tử bám lấy nơi chôn rau cắt rốn bị binh lính bắn giết tự do. Máu và nước mắt thầm đẫm những vùng quê nghèo.

Theo chính sách bất nhân đó, mỗi ấp chiến lược bị rào kín xung quanh bằng một đường mô đất và vài đường hào hình tròn. Dưới những thành hào và mô đất, chông, mìn gài chằng chịt. Những cuộn dây thép gai giăng kín xung quanh. Với cách xây dựng đó, người nông dân có cảm giác như mình là bầy vịt được nhốt trong một tấm cót quây kín. Rải rác khắp 4 hướng là các chòi canh cao nghễu nghện có lính canh gác. Ban ngày, chiếc cổng duy nhất được mở ra, ban đêm đóng kín lại. Mỗi ấp chiến lược có một Ban Trị sự là đảng viên Cần lao. Hỗ trợ Ban  Trị sự là một đơn vị vũ trang không lương gọi là phòng vệ dân sự. Hỗ trợ tin mật báo cho Ban Trị sự là các tổ Thanh niên, Thanh nữ Cộng hòa. Người dân sống trong ấp chiến lược luôn có cảm giác mình bị giam lỏng trước những con mắt soi mói, nghi ngờ của mật vụ.

Thời gian này ở các miền quê Nam Việt Nam, những cảnh tượng thường thấy nhất là hàng chục xe ủi đất xuất hiện. Chúng ùn ùn ủi tất cả những cây trái, hoa màu để hình thành bờ bao. Sau đó, những đoàn cán bộ dẫn lính về hành quân càn quét xua dân chúng vào ấp chiến lược trở thành hoạt động chủ yếu nhất của Diệm. 

Chỉ trong 10 tháng đã có gần 4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho chương trình ấp chiến lược. Trong đó có nhiều cuộc càn quét quy mô lớn như “Chiến dịch mặt trời mọc”, “Chiến dịch Bình Tây”, “Chiến dịch Sao Mai”, “chiến dịch Thu Đông”... Đến cuối năm 1962 đầu năm 1963, Ngô Đình Nhu tuyên bố đã xây dựng được 9.095 ấp, gom giữ được khoảng 8 triệu dân. 

Ngô Đình Nhu rất tự hào với Mỹ về thành tích ấy. Nhưng Ngô Đình Nhu không báo cáo rằng hằng đêm đã có hàng ngàn ấp chiến lược bị dân tháo dỡ, phá bỏ. Người dân tự phá bỏ vì cảm thấy cái gọi là “Quốc sách ấp chiền lược” của Nhu đã biến những làng quê trở thành đồn bót quân sự. Người dân phải bỏ những nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo mang truyền thống văn hóa lâu đời để chui vào một nhà tu tập trung. 

Việc xây dựng ấp chiến lược đối với dân là một thảm họa, nhưng với nhiều công chức địa phương là một nguồn lợi béo bở. Hàng trăm ngàn tấn tole, xi măng, hàng rào đã không đến ấp chiến lược mà đến những nơi tập trung hàng buôn lậu. Chính Nhu cũng không chừa nguồn lợi này.

 Ngày 10/10/1962, Ngô Đình Nhu phát động phong trào Nhân dân tái thiết Dinh Độc Lập để buộc các công chức, nhân viên lớn nhỏ quyên tiền. Tổng sô tiền quyên góp “bắt buộc” được hơn 19 triệu đồng. Nhu tự tiện trích ra 10 triệu đồng cho ngân quĩ xây dựng ấp chiến lược. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ lại tuyên bố: toàn bộ chi phí xây dựng ấp chiến lược đều do Mỹ tài trợ dưới nhiều hình thức trá hình. 

Như vậy, 10 triệu đồng mà Nhu trích ra từ quĩ kiến thiết Dinh Độc Lập không có lý do gì tồn tại trong ngân quỉ xây dựng ấp chiến lược mà lang thang đâu đó trong mớ tài sản riêng của Nhu. 

William Colby, nguyên Giám đốc CIA, người đã từng làm Trưởng luới CIA tại miền Nam từ năm 1959, trong một cuộc phỏng vấn dành cho chương trình “Phỏng vấn nhân chứng lịch sử” do thư viện Lyndon Baines Johnson thực hiện ngày 2-6-1981 đã phát biểu: “Tôi nghĩ rằng đó là một sai lầm của chế độ Diệm - Nhu khi nhấn mạnh đến ấp chiến lược. Vì ấp chiến lược không phải là một bộ phận truyền thống của chính quyền. Nhu không muốn bộ máy quyền lực truyền thống trong làng mạc tồn tại”.

Khi cận kề sự sụp đổ quyền lực, biết Mỹ muốn hất mình, Nhu đã đem việc xây dựng ấp chiến lược ra  khoe với hy vọng Mỹ sẽ thay đổi ý định. Đêm 18/09/1963, được Đại sứ Cabot Lodge mời cơm, Ngô Đình Nhu đã khoe khoang rất nhiều về việc đã sáng tạo ra các ấp chiến lược. 

Nhu muốn chứng tỏ cho Mỹ biết không ai có thể thay thế Nhu trong công cuộc “chống Cộng” ở miền Nam Việt Nam. Nhu muốn lấy  “sự thành công” của “Quốc sách ấp chiến lược” làm cái phao cứu sinh bơi vào tình cảm chính phủ Mỹ. Dù vậy, Nhu cũng không thay đổi được số phận mình. Bởi Mỹ đã quá ngao ngán cả Nhu lẫn Diệm.

Nhu chết, “Quốc sách” của Nhu cũng chết theo. Ấp chiến lược bị nhân dân tự phá bỏ sau cuộc đảo chính 1963.

Quốc sách tố cộng

Một trong những chính sách tàn độc bất nhân nhất của chế độ Diệm là “Quốc sách tố Cộng” do Ngô Đình Nhu khởi xướng vào ngày 11/04/1955. Tài liệu mật của Lầu Năm Góc xác nhận: “Chiến dịch tố Cộng bắt đầu từ mùa hè 1955 đến 1956, có từ 5 vạn đến 10 vạn người bị bắt vào các trại giam của chính quyền. Trong đó rất nhiều người dân thường”. 
Bằng chiến dịch này, Chính quyền Diệm đã buộc những người thân tố cáo nhau, láng giềng dò xét nhau. Chính quyền bắt buộc những gia đình có thân nhân đi kháng chiến phải tuyên bố “từ bỏ” nhau. Con “từ bỏ” cha mẹ. Cha mẹ “từ bỏ” con cái. Chưa hết, chúng còn ép buộc xóm giềng không được quan hệ, giúp đỡ đối với những gia đình này. 

Chủ trương của chiến dịch tàn độc này là phân loại quần chúng. Loại A gồm cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ. Loại B gồm những gia đình có người đi tập kết hoặc có quan hệ mật thiết với những người kháng chiến cũ. Loại C gồm những người không có dính dáng gì đến cách mạng.

Trên cơ sở phân loại nhân dân, Nhu mở các lớp học tập chính trị thực chất là bôi xấu hình ảnh người kháng chiến. Sau đó, đại diện chính quyền tổ chức các buổi tố cộng, bắt mọi người phải tố giác cộng sản (kể cả người thân trong gia đình), xé cờ Đảng Cộng sản, đốt ảnh Bác Hồ, tuyên bố ly khai Đảng. Ai không làm, sẽ bị thủ tiêu.

Trước đó, Diệm mở một số chiến dịch quân sự nhằm hổ trợ cho các chiến dịch “tố cộng”. Một loạt các chiến dịch tàn bạo nhuốm máu đồng bào ấy được Nhu đặt tên: Chiến dịch Phan Châu Trinh (2/1955) đánh phá các tỉnh miền Trung. Chiến dịch này, Diệm lấy Quảng Nam làm trọng điểm; Chiến dịch Giải phóng (4/1955) đánh phá Quảng Ngãi và bắc Bình Định; Chiến dịch Trịnh Minh Thế (5/1955) đánh toàn bộ các tỉnh Khu V.  
Sau bước đầu thí điểm, từ giữa năm 1955, Diệm chính thức phát động “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn 1 trên toàn miền Nam. Âm mưu của Nhu là đánh quânsự trên diện rộng trước, sau đó đánh vào chiều sâu, tập trung vào nơi có phong trào cách mạng phát triển, đánh cả người hoạt động cách mạng và dân thường, vừa tiêu diệt được con người, vừa khủng bố tinh thần làm cho người cộng sản, người có cảm tình với cộng sản hoặc khuất phục chúng, hoặc bị tiêu diệt. Vì thế Nhu ví von những chiến dịch quân sự này là “tát nước bắt cá”.

Để “tố cộng” hiệu quả, Nhu chỉ đạo tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Cao nhất là Hội đồng chỉ đạo “tố cộng” do Diệm làm chủ tịch. Dưới Hội đồng chỉ đạo là Ủy ban “tố cộng” gồm các Ủy viên là các bộ trưởng trong Chính phủ. Nhiệm vụ của Uỷ ban tố cộng Trung ương là trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh, các cơ quan và đào tạo cán bộ làm công tác tố cộng ở cấp trung ương. 

Ở cấp tỉnh có Uỷ ban tố cộng tỉnh. Mỗi bộ lại có một Uỷ ban chỉ đạo theo ngành dọc xuống các cơ quan trực thuộc bộ mình. Huyện, xã có Uỷ ban chỉ đạo tố cộng của huyện, xã.  Thậm chí, liên gia cũng có bộ phận làm công tác tố cộng cấp liên gia.

Các chiến dịch tố cộng miền Trung kết thúc vào tháng 8/1955. Nhu tiếp tục chỉ đạo thực hiện “tố cộng” đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11/1955, trọng điểm là các cơ quan nội bộ. Chiến dịch “tố cộng” đợt 3 được thực hiện từ tháng 11/1955 đến tháng 5/1956 trên toàn miền Nam

Tiếp theo, ngày 11/01/1956, Diệm lại ban hành Dụ số 6 thành lập các trại tập trung để “an trí” những người bị xem là nguy hại cho quốc phòng và an ninh. 

Nối tiếp chiến dịch “tố cộng” Nhu thực hiện hàng loạt kế hoạch quân sự “diệt cộng” như: Chiến dịch quân sự Thoại Ngọc Hầu bắt đầu từ ngày 24/6/1956 đến ngày 24/2/1957; Chiến dịch quân sự Trương Tấn Bửu (từ ngày 10/7/1956 đến ngày 24/2/1957); Cuộc hành quân “Mùa Thu” từ ngày 1/10/1957 đến tháng 12/1957; Hành quân Nguyễn Trãi và cuộc hành quân Hồng Châu (từ ngày 20/4 đến ngày 20/11/1958).

Về Đảng ta, trong 6 tháng đầu năm 1958, miền Tây và miền Trung có 1600 chi bộ tan vỡ, 1.457 cán bộ, đảng viên bị địch bắt và sát hại. Toàn miền Nam, đến cuối năm 1958, có khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên bị sát hại dã man; 466.000 người bị bắt giam;  680.000 người bị tra tấn thành thương tật.

mal" font-size:10.0pt; font-family:arial;color:black"> Trước những “thành tích” đó, Diệm luôn khoe khang rằng, đã đẩy lui được Cộng sản về bên kia vĩ tuyến 17. 

Thật ra, cách mạng miền Nam bị ảnh hưởng bởi hiệp định Genever. Kháng chiến miền Nam trông chờ một giải pháp chính trị thống nhất hai miền. Khao khát hòa bình, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nên chủ trương chung của Trung ương là đấu tranh chính trị đơn thuần. Nhiều cán bộ kháng chiến được chỉ đạo không được phép đấu tranh vũ trang mà chỉ được phép đấu tranh chính trị, tuyên truyền. 

Cũng vì vậy, chính quyền Diệm càng ngang nhiên chém giết bạo tàn. Đến cuối năm 1958, nhân dân miền Nam không chịu đựng nỗi cảnh Diệm đàn áp dã man đã khẩn thiết đề đạt nguyện vọng lên các cấp lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và Trung ương Đảng. 

Đáp ứng nguyện vọng đó, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ra đời. Nghị quyết 15 đã thổi một luồng sinh khí mới vào miền Nam. Khắp nơi, lực lượng kháng chiến bùng lên ngọn lửa đấu tranh. Lòng căm thù chất chứa suốt mấy năm liền đã tích tụ thành một làn sóng đồng khởi khắp miền Nam.

Trở lại vấn đề, ngày 06/05/1959, Diệm ban hành luật 10/59 lập các tòa án quân sự đặc biệt lưu động để xử tử hình, chung thân đối với những người Cộng sản. Theo luật “diệt chủng” này, nạn nhân chỉ có hai mức án: Tử hình và khổ sai chung thân, không kháng cáo, không giảm nhẹ, thi hành án ngay sau khi tuyên. 

Thời gian xét xử giới hạn tối đa 3 ngày. Có nghĩa là ai cũng có thể trở thành nạn nhân của đạo luật 10/59, kể cả thường dân vô tội. Điều bất nhân nhất của đạo luật này chính là “thà giết lầm hơn bỏ sót”. Máy chém của luật 10/59 được những tên đồ tể kéo lê về tận xã, ấp. 

Máy chém trở thành biểu tượng của chế độ Diệm 

Cho đến năm 1959, chỉ tính riêng ở Củ Chi đã có 500 người bị moi gan mổ bụng, 600 người bị dồn vào bao bố cột đá dìm xuống sông, 150 người bị buộc vào sau xe ôtô kéo lê trên đường đá. Trong đó có hơn 100 người là dân thường vô tội. Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa có 300.000 người bị giết hại. Có nhiều người bị giết chỉ vì bị ghen ghét cá nhân.
(Còn tiếp)

Hồ Khả Trân

 

mal"> 

chia sẻ bài viết
Theo:  giaitri.thoibaovhnt.vn copy link
Tác giả:
Từ khóa:
Tin nên đọc