Những trường hợp được tăng lương tối thiểu từ 1/1/2026
Chỉ còn khoảng một tuần nữa là năm 2025 khép lại và kể từ ngày 1/1/2026, chính sách điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng sẽ chính thức có hiệu lực theo quy định tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, trên thực tế, không ít người lao động đang hiểu chưa đúng hoặc kỳ vọng chưa chính xác về chính sách này. Việc tăng lương tối thiểu không đồng nghĩa với việc tất cả người lao động đều được tăng lương, bởi phạm vi áp dụng đã được pháp luật quy định rõ ràng.
Cụ thể, chính sách tăng lương tối thiểu vùng chỉ áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng trong khu vực tư nhân, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nhóm đối tượng này bao gồm công nhân, nhân viên làm việc tại doanh nghiệp; người lao động tại hợp tác xã; lao động thời vụ hoặc lao động tự do có ký kết hợp đồng lao động.
Theo quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm điều chỉnh tăng lương nếu mức lương hiện tại của người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng mới. Trường hợp trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế nội bộ đã có thỏa thuận về việc tăng lương và người lao động đáp ứng đủ điều kiện, doanh nghiệp cũng phải thực hiện theo cam kết.
Đối với người lao động được tuyển dụng trước ngày 31/12/2025, nếu mức lương đang hưởng cao hơn mức lương tối thiểu mới thì tiếp tục được giữ nguyên, nhằm bảo đảm quyền lợi và không làm giảm thu nhập. Trong khi đó, người lao động được tuyển dụng từ ngày 1/1/2026 trở đi sẽ áp dụng mức lương tối thiểu vùng mới theo địa bàn làm việc.
Người lao động có thể hưởng mức lương cao hơn lương tối thiểu không?
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, lương tối thiểu chỉ được xem là mức sàn để bảo vệ quyền lợi cơ bản của người lao động. Trên cơ sở đó, người lao động hoàn toàn có quyền thương lượng và đề xuất mức lương cao hơn với người sử dụng lao động. Trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận và người lao động không có nhu cầu tiếp tục làm việc, họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng thời hạn báo trước theo luật định.
Nghị định 293/2025/NĐ-CP không đặt ra yêu cầu bắt buộc người lao động tốt nghiệp đại học phải được trả lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Tuy nhiên, nếu trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận khác đã có quy định về mức lương cao hơn, thì những cam kết có lợi cho người lao động này vẫn tiếp tục được thực hiện.
Chế tài xử phạt đối với hành vi trả lương thấp hơn mức tối thiểu
Căn cứ Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người sử dụng lao động có hành vi trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
Cụ thể, đối với người sử dụng lao động là cá nhân, mức phạt tiền được áp dụng như sau:
-
Phạt từ 20 – 30 triệu đồng nếu vi phạm từ 1 đến 10 người lao động;
-
Phạt từ 30 – 50 triệu đồng nếu vi phạm từ 11 đến 50 người lao động;
-
Phạt từ 50 – 75 triệu đồng nếu vi phạm từ 51 người lao động trở lên.
Trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt sẽ gấp đôi so với mức phạt áp dụng đối với cá nhân.
Ngoài hình thức xử phạt hành chính, doanh nghiệp còn buộc phải trả đủ phần tiền lương còn thiếu cho người lao động, kèm theo khoản tiền lãi do chậm trả. Mức lãi suất được tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt.
Thực trạng lực lượng lao động hiện nay
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hiện cả nước có hơn 54 triệu người trong lực lượng lao động. Trong đó, hơn 33 triệu người là lao động phi chính thức. Số lao động làm việc theo hợp đồng tại các doanh nghiệp vào khoảng 20 triệu người, bao gồm cả nhóm cán bộ, công chức, viên chức sau sắp xếp với tổng số 937.935 người, trong đó có 37.447 cán bộ, 130.705 công chức và 769.783 viên chức.