Nội tiết phụ nữ là yếu tố chi phối nhiều hoạt động của cơ thể, từ chu kỳ kinh nguyệt, làn da đến tâm trạng. Khi phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai đường uống, hệ nội tiết sẽ ngăn rụng trứng và thay đổi môi trường tử cung. Vì vậy, việc bắt đầu hay ngừng thuốc đều kéo theo những đợt điều chỉnh nội tiết đáng chú ý mà không phải ai cũng lường trước được.
Ngừng thuốc tránh thai, nội tiết phụ nữ "trở tay không kịp"
Theo Tiến sĩ Nupur Gupta, bác sĩ phụ khoa kiêm Giám đốc Phòng khám Well Woman (Gurugram, Ấn Độ), khi ngừng thuốc tránh thai, lượng hormone vốn được kiểm soát ổn định sẽ sụt giảm nhanh chóng. Vì vậy, nội tiết phụ nữ cần thời gian để quay về trạng thái tự nhiên.
Đáng chú ý, khả năng thụ thai có thể phục hồi gần như ngay lập tức bởi hormone tránh thai sẽ đào thải chỉ sau vài ngày. Bên cạnh đó, nội tiết được giữ ổn định trong lúc dùng thuốc nên da thường ít dầu hơn. Tuy nhiên, tuyến bã nhờn sẽ hoạt động mạnh trở lại khi phụ nữ ngừng thuốc, làm mụn và da dầu có xu hướng tái xuất hiện.

Nội tiết phụ nữ có thể xáo trộn đáng kể khi bắt đầu hoặc dừng sử dụng thuốc tránh thai.
Kinh nguyệt, tâm trạng và cân nặng "nhảy múa" theo nội tiết
Không ít phụ nữ gặp tình trạng rong huyết, đau bụng kinh hoặc kinh nguyệt thất thường trong vài tháng đầu sau khi ngừng thuốc tránh thai. Giáo sư Mary Jane Minkin, chuyên gia sản phụ khoa tại Trường Y Đại học Yale (Mỹ), nhận định đây là phản ứng thường gặp khi hệ nội tiết phụ nữ khôi phục nhịp hoạt động vốn có.
Bên cạnh đó, do nội tiết không còn bị điều tiết nhân tạo, nhiều phụ nữ nhận thấy ham muốn tình dục tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, giai đoạn "tái cân bằng" này cũng có thể đi kèm cảm giác dễ cáu gắt và nhạy cảm hơn bình thường.
Ngoài ra, một số thay đổi khác như vòng một nhỏ lại, giảm cân do bớt giữ nước, hay nguy cơ thiếu hụt vitamin D ảnh hưởng đến xương cũng được ghi nhận. Các chuyên gia y khoa khuyến nghị phụ nữ nên theo dõi các dấu hiệu bất thường kéo dài và chủ động thăm khám khi cần.
Tránh thai nội tiết tố và mối liên hệ với ung thư vú
Ngoài những xáo trộn tạm thời như trên, một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine (ngày 21.3) cho thấy mọi biện pháp tránh thai sử dụng nội tiết tố, dù là uống thuốc, đặt vòng, cấy que hay tiêm, đều làm tăng nhẹ nguy cơ ung thư vú so với nhóm không sử dụng. Cụ thể, mức rủi ro tăng thêm khoảng 20 - 30%.
Nguy cơ này cũng thay đổi theo độ tuổi sử dụng. Số liệu theo dõi trong 5 năm với phụ nữ 16 - 39 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm 16 - 20 tuổi chỉ khoảng 8/100.000 người. Trong khi đó, tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm 35 - 39 tuổi lại lên tới 265/100.000 người.
Giáo sư Gillian Reeves, giáo sư dịch tễ học tại Đại học Oxford và đồng tác giả nghiên cứu, thừa nhận không ai muốn nghe rủi ro ung thư vú tăng thêm khi dùng biện pháp tránh thai nội tiết. Tuy nhiên, bà cũng lưu ý liệu pháp này mang lại lợi ích bảo vệ lâu dài trước một số loại ung thư khác như ung thư buồng trứng và ung thư nội mạc tử cung.

Mọi biện pháp tránh thai nội tiết tố đều tiềm ẩn nguy cơ mắc ung thư vú.
Cân nhắc lợi - hại khi lựa chọn phương pháp tránh thai nội tiết
Theo các bác sĩ tại Bệnh viện Thu Cúc TCI, nhiều nghiên cứu trước đó cũng từng ghi nhận mối liên hệ giữa tránh thai nội tiết và ung thư vú, đồng thời cho biết rủi ro này sẽ giảm dần sau khi ngừng sử dụng. Trên thực tế, dù ung thư vú có xu hướng trẻ hóa, tỷ lệ mắc ở người trẻ vẫn tương đối thấp và bệnh chủ yếu xuất hiện ở nhóm 50 - 70 tuổi.
Bên cạnh yếu tố nội tiết, nguy cơ ung thư vú còn liên quan đến tuổi tác, tiền sử di truyền, việc chưa sinh con hay có khối u vú lành tính. Do đó, phụ nữ, đặc biệt là người có nguy cơ di truyền, nên trao đổi với bác sĩ phụ khoa để chọn phương pháp tránh thai phù hợp, thay vì tự ý sử dụng nội tiết tố trong thời gian dài mà không theo dõi.
Chủ động bảo vệ sức khỏe nội tiết và tầm soát sớm
Ung thư vú thường được ví như "kẻ giết người thầm lặng" vì tâm lý chủ quan khiến nhiều người phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn. Trong khi đó, nếu được phát hiện sớm, cơ hội sống trên 5 năm có thể lên tới 90%; ngược lại, khi bệnh đã di căn, tỷ lệ này giảm chỉ còn khoảng 20%.
Chính vì vậy, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên khám sức khỏe định kỳ, tự kiểm tra vú thường xuyên và duy trì lối sống lành mạnh để hỗ trợ hệ nội tiết phụ nữ hoạt động ổn định. Đặc biệt, phụ nữ từ 40 - 60 tuổi nên tầm soát ung thư vú 2 lần/năm nhằm phát hiện sớm bất thường và can thiệp kịp thời.