Theo pháp luật lời căn dặn con cháu có phải là di chúc thừa kế nhà đất hay không?

( PHUNUTODAY ) - Lời căn dặn con cháu về việc chia nhà, đất vẫn còn rất phổ biến hiện nay. Vậy xét về mặt pháp luật lời căn dặn con cháu có phải là di chúc thừa kế nhà đất hay không?

 Lời căn dặn con cháu là di chúc bằng văn bản

loi-can-dan-con-chau-co-duoc-xem-la-di-chuc-khong_3

Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”.

Từ đó có thể thấy không phải văn bản ghi “di chúc” mới được xác định là di chúc, thay vào đó “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ tên gọi (bộ phận thuộc về hình thức bên ngoài) không thể quyết định nội dung, điều kiện để được xác định là di chúc.

Trường hợp lời căn dặn con cháu chỉ là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết thì được xác định là di chúc nhưng không hợp pháp nếu không đáp ứng điều kiện theo quy định Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.

Lời căn dặn con cháu thể hiện dưới hình thức văn bản được xác định là di chúc hợp pháp đáp ứng các điều kiện sau:

(1) Người lập minh mẫn, sáng suốt trong khi lập bản căn dặn con cháu; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.(2) Nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập bản căn dặn con cháu; họ, tên và nơi cư trú của người lập; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng nhà đất; tài sản để lại và nơi có tài sản. Ngoài ra, có thể có thêm các nội dung khác.

(3) Hình thức không trái quy định của luật (thông thường lời căn dặn con cháu được thể hiện dưới dạng văn bản không có người làm chứng (đánh máy hoặc viết tay, có chữ ký của người lập), ngoài ra còn được thể hiện dưới dạng văn bản có người làm chứng).

Lời căn dặn con cháu được xác định là di chúc miệng

loi-can-dan-con-chau-co-duoc-xem-la-di-chuc-khong_4

Căn cứ Điều 629 Bộ luật dân sự 2015 quy định về di chúc miệng như sau:

1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Căn cứ Điều 630 Bộ luật này quy định về di chúc hợp pháp:

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Căn cứ Điều 632 Bộ luật này quy định về người làm chứng cho việc lập di chúc như sau:

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Theo đó, lời căn dặn con cháu được xác định là di chúc miệng nếu bên cạnh việc đáp ứng được các điều kiện như đã phân tích ở trên và thỏa mãn các điều kiện trên. Nếu không tuân thủ về hình thức và thời hạn thì di chúc này mặc nhiên bị hủy bỏ. Và mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc miệng nói riêng, trừ một số người theo luật định.