Nghỉ phép là gì?
Nghỉ phép là quyền lợi cơ bản của người lao động, cho phép nghỉ làm việc nhưng vẫn hưởng nguyên lương theo hợp đồng. Thông thường, số ngày nghỉ phép trong năm dao động từ 12–16 ngày, tùy điều kiện công việc, nhằm giúp người lao động tái tạo sức khỏe và nâng cao hiệu quả làm việc. Đây là chế độ phúc lợi bắt buộc theo Bộ luật Lao động 2019 áp dụng cho người làm đủ 12 tháng.
Nghỉ phép năm 2026: Người lao động được nghỉ bao nhiêu ngày?
Căn cứ Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, hướng dẫn bởi Điều 65 và 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian nghỉ phép năm của người lao động được quy định như sau:
Thời gian được tính là thời gian làm việc để hưởng nghỉ phép:Thời gian học nghề, tập nghề nếu sau đó người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động.Thời gian thử việc nếu người lao động tiếp tục làm việc sau thử việc.Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật Lao động.Thời gian nghỉ không hưởng lương nếu được đồng ý, tối đa 1 tháng/năm.
Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tối đa 6 tháng.Thời gian nghỉ ốm đau, tối đa 2 tháng/năm.Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định pháp luật.Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.Thời gian phải ngừng việc hoặc nghỉ việc không do lỗi người lao động.Thời gian tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó được xác định không vi phạm hoặc không bị xử lý kỷ luật.
Số ngày nghỉ phép năm 2026
Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động sẽ được nghỉ hằng năm và hưởng nguyên lương theo hợp đồng:
12 ngày làm việc: Áp dụng với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường.14 ngày làm việc: Áp dụng với người chưa thành niên, người khuyết tật hoặc làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.16 ngày làm việc: Áp dụng với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Đối với người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng, số ngày nghỉ phép sẽ được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng đã làm việc.
Cách tính ngày nghỉ hằng năm trong một số trường hợp đặc biệt
Theo Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc tính ngày nghỉ hằng năm trong những trường hợp đặc biệt được hướng dẫn như sau:
Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng: Số ngày nghỉ hằng năm được tính bằng công thức: lấy tổng số ngày nghỉ theo quy định (bao gồm số ngày nghỉ tăng thêm theo thâm niên, nếu có), chia cho 12 tháng và nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm.
Người lao động làm việc chưa đủ tháng: Nếu tổng số ngày làm việc và các ngày nghỉ có hưởng lương (bao gồm nghỉ lễ, Tết, nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Điều 112–115 Bộ luật Lao động) chiếm từ 50% số ngày làm việc bình thường trong tháng theo thỏa thuận, thì tháng đó được tính là 1 tháng làm việc để tính ngày nghỉ hằng năm.
Người lao động chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước: Toàn bộ thời gian làm việc tại các đơn vị này được tính để xác định số ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo quy định tại Điều 114 Bộ luật Lao động, nếu người lao động tiếp tục làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước.Nghỉ phép có được tính lương không?
Theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho cùng một doanh nghiệp sẽ được hưởng nguyên lương trong những ngày nghỉ phép năm.
Cụ thể:
Người lao động làm việc trong điều kiện bình thường: 12 ngày phép/năm.Người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại hoặc nguy hiểm: 14 ngày phép/năm.Người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại hoặc nguy hiểm: 16 ngày phép/năm.
Với người lao động chưa làm đủ 12 tháng, số ngày nghỉ phép sẽ được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc thực tế, theo công thức:
Số ngày nghỉ phép = (Số ngày nghỉ hằng năm + số ngày nghỉ tăng theo thâm niên nếu có) / 12 × số tháng làm việc thực tế
Điều quan trọng là trong thời gian nghỉ phép, người lao động vẫn được hưởng nguyên lương theo hợp đồng. Ngoài ra, nếu nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng mà chưa sử dụng hết số ngày phép, doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán lương cho những ngày phép chưa nghỉ, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động.