Theo Điều 4 Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND:
1. Đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng
a) Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, thuộc một trong các trường hợp sau:
Mồ côi cha hoặc mẹ, trong khi người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP), hoặc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng. Cả cha và mẹ đều đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng.
Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo pháp luật, người còn lại đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo các chế độ trên.Cha hoặc mẹ đang hưởng trợ cấp hằng tháng và người còn lại đang chấp hành án phạt tù, hoặc đang chịu quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
b) Trẻ em thuộc diện trên khi đủ 16 tuổi nhưng vẫn đang theo học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học hệ chính quy lần đầu, sẽ tiếp tục được hưởng trợ cấp hằng tháng cho đến khi kết thúc việc học, tối đa không quá 22 tuổi.
c) Người khuyết tật thần kinh, tâm thần mức đặc biệt nặng, có hành vi nguy hiểm cho gia đình và cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, cần cách ly khỏi cộng đồng, được đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội để nuôi dưỡng, điều trị và phục hồi chức năng.
d) Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, chưa được hưởng trợ cấp hằng tháng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP.
2. Mức trợ cấp xã hội hằng tháng
a) Đối tượng tại điểm a:
Hệ số 2,5 đối với trẻ dưới 4 tuổi.Hệ số 1,5 đối với trẻ từ 4 tuổi trở lên.
b) Đối tượng tại điểm b và d:
Hưởng hệ số 1,5.
c) Đối tượng tại điểm c:
Hưởng mức trợ giúp xã hội theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND, đồng thời được áp dụng các chế độ, chính sách khác theo quy định.
Theo Điều 2 Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND, mức chuẩn trợ giúp xã hội được quy định là 530.000 đồng/tháng.
Như vậy, từ năm 2026, trẻ em từ 4 tuổi trở lên thuộc các đối tượng sau sẽ được hưởng 795.000 đồng/tháng tiền trợ cấp xã hội:
Mồ côi cha hoặc mẹ, trong khi người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP), hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng.Cả cha và mẹ đều đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng.
Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo pháp luật, người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP), hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng.
Cha hoặc mẹ đang hưởng trợ cấp hằng tháng và người còn lại đang chấp hành án phạt tù, hoặc đang chịu quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Người khuyết tật thần kinh, tâm thần mức đặc biệt nặng, có hành vi nguy hiểm cho gia đình và cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, cần cách ly khỏi cộng đồng để nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng tại cơ sở trợ giúp xã hội, đảm bảo an toàn xã hội.Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo chưa được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP.
Lưu ý: Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội, đối tượng được hưởng, cũng như mức chi phí chi trả chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Nguyên tắc cơ bản về chính sách trợ giúp xã hội (Điều 3 Nghị định 20/2021/NĐ-CP)Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch, hỗ trợ theo mức độ khó khăn và ưu tiên tại gia đình, cộng đồng nơi đối tượng sinh sống.Chế độ, chính sách trợ giúp xã hội sẽ được điều chỉnh theo điều kiện kinh tế đất nước và mức sống tối thiểu của dân cư từng thời kỳ.Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia nuôi dưỡng, chăm sóc và trợ giúp các đối tượng được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.