Trả lương bao nhiêu thì bắt buộc phải chuyển khoản?
Căn cứ Điều 96 Bộ luật Lao động 2019, pháp luật hiện hành quy định hình thức trả lương như sau: người sử dụng lao động và người lao động được quyền thỏa thuận hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm hoặc theo khoán. Tiền lương có thể được chi trả bằng tiền mặt hoặc thông qua tài khoản cá nhân của người lao động mở tại ngân hàng.
Trong trường hợp trả lương qua tài khoản, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả các khoản phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương. Chính phủ sẽ quy định chi tiết nội dung này.
Như vậy, pháp luật không đặt ra mức tiền lương cụ thể nào buộc doanh nghiệp phải trả qua hình thức chuyển khoản. Việc nhận lương bằng tiền mặt hay qua tài khoản ngân hàng hoàn toàn do hai bên thỏa thuận.
Nguyên tắc trả lương cần tuân thủ
Theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, việc trả lương phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản: người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể trực tiếp nhận lương thì có thể ủy quyền hợp pháp cho người khác nhận thay.
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động không được can thiệp hay hạn chế quyền tự quyết trong việc chi tiêu tiền lương của người lao động, cũng không được ép buộc họ phải mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ do mình hoặc đơn vị khác chỉ định.
Trả lương không đúng hạn cho người lao động sẽ bị xử phạt ra sao?
Theo khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi trả lương không đúng thời hạn, không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm, lương ngừng việc… hoặc can thiệp trái phép vào quyền chi tiêu tiền lương của người lao động sẽ bị xử phạt hành chính.
Cụ thể, mức phạt tiền được áp dụng tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm, như sau:
Từ 5 – 10 triệu đồng nếu vi phạm đối với 1 đến 10 người lao động;
Từ 10 – 20 triệu đồng đối với 11 đến 50 người lao động;
Từ 20 – 30 triệu đồng đối với 51 đến 100 người lao động;
Từ 30 – 40 triệu đồng đối với 101 đến 300 người lao động;
Từ 40 – 50 triệu đồng nếu vi phạm đối với từ 301 người lao động trở lên.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, các mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Trường hợp người vi phạm là tổ chức, mức phạt sẽ gấp đôi, tương ứng từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
Bên cạnh hình thức xử phạt tiền, người sử dụng lao động còn buộc phải trả đủ số tiền lương chậm trả hoặc trả thiếu, đồng thời trả thêm tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt.