Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 8, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa X đã thông qua Nghị quyết số 26/2025/NQ-HĐND quy định đối tượng và mức hỗ trợ trong dịp Tết Nguyên đán 2026 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 21/12/2025 và được áp dụng đối với các nhóm đối tượng gồm:
Thứ nhất, hộ nghèo, hộ cận nghèo; hộ gia đình, cá nhân là người có công với cách mạng; các đối tượng thuộc diện chính sách, bảo trợ xã hội, hưu trí; bệnh nhân, phạm nhân; đoàn viên và người lao động có hoàn cảnh khó khăn.
Thứ hai, công chức, viên chức, người lao động đang công tác tại các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể; cơ quan quản lý nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; cơ quan ngành dọc và một số đơn vị quân đội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có quan hệ phối hợp với tỉnh.
Thứ ba, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và đơn vị có liên quan đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Theo khoản 7 Điều 3 Nghị quyết số 26/2025/NQ-HĐND, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định mức hỗ trợ 1.000.000 đồng/người trong dịp Tết Nguyên đán 2026 cho khoảng 15.000 đoàn viên, người lao động thuộc diện đơn thân đang nuôi con nhỏ dưới 6 tuổi; phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi có hoàn cảnh khó khăn, thông qua Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai.
Lao động nữ mang thai được tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong bao lâu?
Căn cứ khoản 2 Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Trong trường hợp này, người lao động phải thông báo cho người sử dụng lao động và kèm theo xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền.
Trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thời gian tạm hoãn do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, nhưng tối thiểu phải bằng thời gian tạm nghỉ theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Nếu không có chỉ định cụ thể về thời gian tạm nghỉ, hai bên sẽ thỏa thuận về thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, lao động nữ mang thai được tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong thời gian do hai bên thỏa thuận và được người sử dụng lao động chấp thuận, nhưng không được ngắn hơn thời gian nghỉ theo chỉ định của cơ sở y tế; trường hợp không có chỉ định thì thời gian tạm hoãn căn cứ vào sự thống nhất của các bên.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ mang thai phải báo trước bao nhiêu ngày?
Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định các trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trong đó có người lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Từ các quy định trên có thể khẳng định, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ mang thai. Do đây là trường hợp pháp luật không cho phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên không đặt ra quy định về thời hạn báo trước bao nhiêu ngày.