Cội nguồn Tết âm: Không hẳn là sáng tạo của người Hoa

18:45, Thứ bảy 01/02/2014

( PHUNUTODAY ) - (Phunutoday) - Với những phân tích sâu sắc của mình, cố giáo sư Trần Quốc Vượng sẽ giúp chúng ta tiếp cận cái Tết cổ truyền dưới góc nhìn văn hóa học và sự biến đổi của Tết trong bối cảnh đời sống mới, văn hóa mới…

Tết Nguyên đán là gì?

Một cách chặt chẽ, Tết bắt đầu từ ngày mồng một tháng Giêng đầu năm mới theo lịch cổ truyền mà ta quen gọi là Âm lịch – Thật ra là Âm – Dương hợp lịch, và “Tháng” được tính theo Trăng (từ, “mồng một lá trai, mồng hai lá lúa – đến ba mươi không trăng”) còn “24 tiết” trong năm được định theo mặt trời; ấy là không kể lịch còm được điều chỉnh theo sao, “nhật – nguyệt – tinh” đều được tham chiếu để làm lịch, đó không phải là lịch thuần âm hay thuần dương (như chúng ta vẫn nghĩ - PV).

Mô tả ảnh.
Cố giáo sư Trần Quốc Vượng.

Tết là ngày đầu nắm mới, trước hết và quan trọng nhất là “mồng một”, rồi bao hàm cả “3 ngày Tết” (từ mồng một đến mồng ba): Mồng một thì ở nhà cha/ Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy.

Nhưng, trong ngôn ngữ cổ truyền của người Việt, bắt đầu từ 23 tháng Chạp năm cũ, người ta gọi là “23 Tết” (ít ai gọi là 23 tháng Chạp), cứ thế kéo dài đến “30 Tết” (Ba mươi tháng Chạp – Đêm ấy – hay nửa đầu đêm ấy – được coi là tối tăm nhất trong năm  (Tối như đêm Ba mươi Tết, dầy như đất) – và “ông Hùm” được bảng giá trị cổ truyền coi là thế lực đáng sợ nhất, tối tăm nhất nên lại được gọi một cách tượng trưng – văn hóa là “ông Ba Mươi”. “30 Tết”, qua “Giao thừa” lại được gọi là “Mồng một Tết” rồi “Mồng hai Tết”… cho đến ít nhất là “mồng bảy Tết” v.v…

Thật ra lễ lạt đầu năm mới được gọi là thu gọn là Tết chứ nếu gọi một cách đầy đủ thì dân gian nói là Tết Cả hay gọi theo “tên chữ” (Hán – Việt vốn đã từ lâu quen thuộc với ngôn ngữ dân gian) là Tết Nguyên đán. Nguyên là Đầu Tiên, Đán là buổi sớm. Theo nguyên nghĩa, “Nguyên đán” là buổi sớm đầu tiên của ngày đầu tiên của tháng đầu tiên “Giêng” của năm mới.

Vậy “Tết Nguyên đán” là “tết đầu năm mới”. Còn Tết Cả nghĩa là Tết Hàng Đầu, tết Đứng Đầu, tết To Nhất và Quan trọng Nhất. Với tên gọi ấy, trong tâm thức dân gian đã tiềm ẩn cái ý là sau Tết Cả, có những tết khác, “tết con”, tết không to bằng, không quan trọng bằng Tết Cả.

Tết Âm không hẳn sáng tạo của riêng người Hoa

Ai cũng biết, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam là những vùng “ngoại biên” của văn minh Trung Hoa và chịu ảnh hưởng đậm đà theo những khía cạnh khác nhau, với những nồng độ khác nhau, độ sâu nông khác nhau và những góc khúc xạ khác nhau của văn minh Trung Hoa. Một cái Tết chung cho cả 4 nước trên dễ cho người ta cảm nhận Tết đó vốn có cội nguồn Trung Hoa.

Trong các tộc người thuộc cộng đồng quốc gia Việt Nam, tộc Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa sớm nhất và mạnh nhất và cũng “văn hiến” nhất. Có sự giao thoa văn hóa Việt Nam (cả cưỡng bức và tự nguyện) qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, bắt đầu từ hàng thế kỷ trước công nguyên, rõ dệt nhất là thời Hán Vũ đế (111 tr CN). Nhưng Tết trước hết là Tết của người Việt.

Cái lịch cổ truyền “kiến Dần” (lấy tháng Giêng – tháng Dần – là chính sóc, đầu năm mới) cũng mới bắt đầu ở Trung Hoa từ Hán Vũ đế (140 tr CN). Người ta bảo: đấy là sự trở lại lịch nhà Hạ. Nhưng nhà Hạ bên Trung Hoa vẫn còn là “huyền thoại”, hiện chưa có sự nhất trí trong việc xác định “văn hóa Hạ” và “nhà nước Hạ”. Giới khỏa cổ chỉ biết tương đối chính xác về đời Thương – Ân, văn hóa Thương - Ân, nhà nước Thương – Ân cùng những “mảnh vụn” lịch can chi Thương – Ân.

Nhà Ân “kiến Sửu” (lấy tháng mười hai theo lịch bây giờ là chính sóc); Nhà Chu “kiến Tý” (lấy tháng mười một làm đầu năm). Lịch ta gọi tháng mười một là tháng “Một” phải chăng là một “vang bóng” muộn màng trong lời nói về cái lịch đời Chu này? 

Giữa văn hóa Thương – Chu và văn hóa Việt cổ, đã có quan hệ giao lưu: trong nhiều di tích văn hóa Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng (đầu thời đại đồng bốn nghìn - ba nghìn năm cách ngày nay), đã tìm thấy qua đá, liễm đá – có phong cách Ân. Nhưng cội nguồn của văn hóa Thương – Ân còn là vấn đề thảo luận, có người cho gốc phương Nam Tày – Thái cổ, có người cho có ảnh hưởng Babylone…Lịch Mường cổ truyền, so với lịch Việt “kiến Dần” là “ngày lui – tháng tới” cũng là lịch “kiến Sửu” của Thương - Ân.

Nhà Tần thống nhất Trung Hoa, dùng lịch “kiến Hợi” (lấy tháng mười làm tháng đầu năm). Nhà Hán lên (206 tr CN) ban đầu vẫn theo lịch Tần đến Hán Vũ đế (140 tr CN) mới theo lịch “kiến Dần”, bảo là khôi phục lịch nhà Hạ, “hành Hạ chi thời” theo Nho giáo. Trong một bài viết về lịch Việt Nam đăng trên Tạp chí khoa học xã hội đại học Tổng hợp Hà Nội 1988, tôi cho rằng đấy không phải là lịch nhà Hạ mà là sự tham khảo “Kinh Sở tuế thời ký” của miền Kinh Sở ở Hoa Nam trong bối cảnh của nền văn minh lúa nước.

Âm dương lịch là sự phối kết lịch can – chi Hoa Bắc và “lịch 12 con vật” của miền Việt cổ (Bách Việt). Do đó tôi mệnh danh nó là lịch Việt – Hoa. Cái Tết như được xác định vào thời điểm hiện tại là nương theo lịch này, do vậy có thể gọi là Tết Việt – Hoa.

Các vua nhà Hán – như Vũ đế, người quyết định thi hành lịch này – gốc ở đất Bái, nước Sở thuộc Giang Nam, vùng văn hóa lúa nước chứ không phải ở vùng văn hóa ke mạch Hoa Bắc. Sang thời Hán cho đến nay, trung tâm sản xuất nông nghiệp, vựa thóc chính của Trung Hoa là Hoa Nam trồng lúa nước chứ không phải Hoa Bắc trồng lúa mạch. Cho đến những thập kỷ gần đây, Hoa Nam vẫn phải cung cấp lương thực cho Hoa Bắc. Bởi vậy từ đời Hán, lịch – mà chức năng chính là để xác định thời vụ sản xuất nông nghiệp – là phải nương theo khí hậu thời tiết miền Hoa Nam Bách Việt cổ.

Tóm lại, cái Tết như hiện nay bắt đầu khoảng trước Công nguyên hơn 100 năm, từ đời Hán và có cội nguồn đan xen văn hóa Việt – Hoa.

Mô tả ảnh.
Âm dương lịch là sự phối kết lịch can – chi Hoa Bắc và “lịch 12 con vật” của miền Việt cổ (Bách Việt).

Vì sao có chữ “Tết”?

“Tết” là âm “đọc trạnh” theo lối dân gian của chữ “Tiết” Hán Việt. Có nhiều thí dụ về lối “đọc trạnh” này để làm dẫn chứng, chẳng hạn Biên – Bên, Lượng – Lạng (cân lạng), Phàm – Buồm, Phóng – Buông, Liệt – Lệt (bệt), Việt – Vượt, Viên – Vườn… v.v. “Tiết” âm Hán Việt vốn có nghĩa là: Đoạn, Khúc, Đốt, chẳng hạn “trúc triết” (đoạn tre, khúc tre, đốt tre) – như trong câu thơ viết trên tranh dân gian về cây tre (“vị xuất thổ thời tiên hữu tiết”, nghĩa là: chưa ra khỏi đất đã có “đốt” - với hàm ý tinh thần: khí tiết, tiết thao (phong nho).

Trên dòng thời gian liên tục của một năm theo lịch cổ truyền, người ta phân lập ra nhiều “tiết” – những sinh hoạt lễ lạt – văn hóa đan xen sinh hoạt đời thường thế tục, chẳng hạn “Đoan Ngọ tiết” – được gọi là tết Đoan Ngọ, “Trung thu tiết” được gọi là tết Trung thu… v.v

Vậy Tết theo nghĩa rộng bao hàm những định kỳ lễ lạt trong năm, quanh năm. Tết nhân văn vẫn lương theo thời tiết tự nhiên, chuyển vần theo mùa vụ một năm, chẳng hạn tết Đoan Ngọ là khoảng trước sau ngày Hạ chí, tết Cơm mới ở khoảng tiết Đông chí, tết Trung thu ở khoảng tiết Thu phân… v.v.

Tôi cho rằng, Tết Cả hay Tến Nguyên Đán là lương theo cái tiết Lập Xuân. Có điều là giữa cái Văn hóa và cái tự nhiên có một độ dung sai nhất định, không hoàn toàn trùng khít với nhau.

Theo văn hóa và lễ hội học, Tết Nguyên đán có thể được xếp loại vào Hội mùa (Fête saisonnière), là một lễ lạt, sinh hoạt văn hóa theo mùa. Vậy Tết Nguyên đán là một Hội lễ nông nghiệp (Fête agricole) một nghi thức nông nghiệp (Rite agraire).

(Trích “Văn hóa TếtTết Văn hóa” của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng.)

chia sẻ bài viết
Theo:  giaitri.thoibaovhnt.vn copy link
Tác giả: Phạm Đông