Trẻ sinh mổ không bị ảnh hưởng IQ nhưng có 5 thiệt thòi con phải gánh chịu lâu dài

( PHUNUTODAY ) - Mặc dù việc trẻ sinh mổ không liên quan gì tới IQ của trẻ, tuy nhiên con sẽ có những thiệt thòi nhất định so với trẻ sinh thường.

Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học. Các ca sinh thường gặp khó khăn, hoặc người mẹ có bất cứ vấn đề nào trong lúc bầu bí mà có chỉ định sinh mổ đều được thực hiện việc mổ bắt thai dễ dàng, an toàn.

Nhiều người nhầm tưởng rằng việc sinh mổ sẽ ảnh hưởng IQ của trẻ, nhưng thực ra không phải vậy. IQ của con sẽ không bị ảnh hưởng gì, chỉ có điều con sẽ thiệt thòi hơn về những khía cạnh sau:

2

Trẻ sinh mổ có khả năng suy hô hấp nhiều hơn

Theo thống kê, so với sinh tự nhiên, trẻ sinh bằng phương pháp sinh mổ có nguy cơ bị viêm phổi nhiễm trùng, khó thở tạm thời và hội chứng suy hô hấp sau sinh cao gấp 10 lần do trẻ sinh mổ không được ép hết chất dịch bằng kênh sinh của mẹ. Nước ối tích tụ trong phổi được bài tiết ra ngoài từ từ, khi nước ối trong phổi của bé không được ép hếtthì sẽ xảy ra hiện tượng khó thở và thở khò khè.

Trẻ sinh mổ dễ béo phì sau khi lớn lên

Theo các nghiên cứu của nước ngoài, so với trẻ sinh tự nhiên, trẻ sinh mổ có nguy cơ béo phì cao hơn khi đến tuổi trưởng thành, từ 30 - 40 tuổi. Người ta thường tin rằng vì trẻ sinh mổ không được tiếp xúc với tất cả các loại vi khuẩn trong ống sinh và đường tiêu hóa của người mẹ, do đó đường tiêu hóa và hệ miễn dịch sẽ kém phát triển hơn. Tuy nhiên, vì nguyên nhân gây béo phì khá phức tạp, và cũng có thể liên quan đến nội tiết và các bệnh lý khác nên cũng giống như việc cho rằng bé sinh mổ kém thông minh hơn, hiện tại vẫn chưa có kết luận chính xác.

Trẻ sinh mổ dễ bị hen suyễn và dị ứng

Một nghiên cứu của Viện Sản nhi Hoa Kỳ vào năm 2017 cho thấy sinh con bằng phương pháp sinh mổ thực sự sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh dị ứng và hen suyễn ở trẻ. Vì trẻ sinh mổ không tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn trong ống sinh và các vi sinh vật có liên quan trong đường tiêu hóa của mẹ nên hệ miễn dịch nhận được ít hơn và dễ bị dị ứng hơn trong quá trình lớn lên.

Sinh mổ làm tăng số lượng trẻ sơ sinh mắc hội chứng chậm hấp thu dịch phổi

Trong những năm qua, số trẻ sơ sinh nhập viện chăm sóc đặc biệt do hội chứng chậm hấp thu dịch phổi đã tăng lên nhiều. Trong giai đoạn bào thai, phổi của thai nhi không hoạt động và chứa đầy dịch phổi. Khi chuyển dạ, cơ thể thai nhi sẽ tiết vào máu chất Catecholamine khiến cho phổi của thai nhi ngưng không bài tiết dịch phổi mà chuyển sang hấp thu dịch phổi. Khi sinh thường, lồng ngực của trẻ sẽ được ống sinh bóp chặt nên hầu hết dịch phổi này sẽ được tống ra khỏi phế nang. Số dịch còn lại sẽ được phổi tự hấp thu. Sinh mổ khiến trẻ không thể tự làm sạch dịch phổi.

Trẻ sinh mổ dễ bị rối loạn tích hợp cảm giác

Suy nghĩ không kiểm soát được hành vi là rối loạn tích hợp các giác quan, một trong những yếu tố gây ra căn bệnh này là mổ lấy thai. Trẻ sinh ra tự nhiên sẽ có quá trình não và cơ thể hợp tác với nhau, nhưng thai nhi sinh mổ không có cơ hội này.

Nhưng việc sinh mổ hay sinh thường ngày nay đều do các bác sĩ quyết định. Những bà mẹ này không thích hợp để sinh con tự nhiên:

- Thai nhi quá lớn và khung xương chậu của người mẹ không thể chứa được phần đầu của thai nhi . Trong quá trình khám thai, nếu bác sĩ đánh giá thai nhi nặng trên 4kg, có nguy cơ khi sinh thường thì đa số sẽ đề nghị mổ lấy thai.

- Khung chậu của mẹ bị hẹp hoặc bị biến dạng . Điều này thường là một phụ nữ có cấu trúc xương chậu bất thường, chẳng hạn như bệnh nhân bại liệt, tiền sử gãy xương chậu, thân hình nhỏ nhắn hoặc mắc bệnh nhân lùn…

- Trong quá trình sinh nở, các trường hợp đặc biệt xảy ra đối với bào thai hoặc người sinh sản . Ví dụ như dây rốn quấn cổ, chức năng nhau thai kém, hít phải phân su, hoặc các biến chứng như cao huyết áp, tiểu đường, tiền sản giật…

- Sản phụ bị hội chứng tăng huyết áp nặng do thai nghén và các bệnh khác mà không thể sinh con tự nhiên như tiền sản giật, bệnh tim….

- Vị trí của thai nhi bất thường

- Mẹ mang đa thai

Nói chung, việc sinh thường hay sinh mổ thường sẽ do bác sĩ chỉ định. Tùy thuộc hoàn toàn vào thể trạng của người mẹ. Còn đối với em bé, hiện nay y học rất phát triển, cha mẹ cũng không nên quá lo lắng.